Phật A Di Đà và Phật Thích Ca Vị Phật Nào Có Trước?

【Phật A Di Đà và Phật Thích Ca】Vị Phật Nào Có Trước?

Phật A Di Đà và Phật Thích Ca có thể xem là hai vị phật lớn của Phật Giáo. Tuy nhiên, vẫn nhiều người thường nhầm tưởng phật A Di Đà và Phật Thích Ca là một. Vậy làm thế nào để phân biệt tượng phật A Di Đà với Phật Thích Ca. Và giữa Phật A Di Đà và Phật Thích Ca thì vị phật nào có trước? Bài viết dưới đây sẽ giúp bạn giải đáp hết tất thảy những thắc mắc đó.

Phật A Di Đà và Phật Thích Ca là ai? 

Đôi nét về Phật A Di Đà

Phật A Di Đà là vị Phật được tôn thờ nhiều nhất trong Đại thừa Phật giáo. Ngài là vị phật chuyên cứu độ cho chúng sinh. Tên của Ngài nghĩa là Vô Lượng Thọ – là thọ mệnh vô lượng và Vô Lượng Quang – là ánh sáng vô lượng.

Phật A Di Đà

Đức Phật A Di Đà được biết đến là giáo chủ của cõi Cực lạc an vui ở Tây phương. Ngài không sống trên trái đất mà Ngài xuất hiện trong các kinh phật giáo.

Đôi nét về Phật Thích Ca

Theo sách sử ghi chép lại, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là bậc giáo chủ cõi Ta Bà chính là là cõi đau khổ, là trái đất – nơi mà con người đang sinh sống. Ngày sinh của Phật Thích Ca Mâu Ni là ngày 8 tháng 4 năm 624 TCN (âm lịch).

Phật Thích Ca Mâu Ni

Ngài là vị phật có thật trong lịch sử chứ không phải là vị phật huyền thoại, là người sáng lập ra Phật Giáo. Khi đã được chứng Thánh quả, Đức Phật Thích Ca có khả năng vận dụng trí tuệ, thần thông thấu rõ sự vận hành của tất cả sự vật, hiện tượng, nhân sinh trong vũ trụ một cách chuẩn xác. Có lẽ bởi vật mà ý nghĩa tượng Phật Thích Ca  luôn gắn liền với sự thanh tịnh và giải thoát.

Phật A Di Đà và Phật Thích Ca, vị nào có trước?

Không ai biết phật A Di Đà xuất hiện từ khi nào. Chỉ biết rằng phật chúng biết đến Phật A Di Đà là do Phật Thích Ca giới thiệu. Phật Thích Ca nhờ khả năng đặc biệt mà có thể nhìn rõ quá trình tu hành của Đức Phật A Di Đà qua nhiều kiếp, có thể thấy rõ môi trường sống và quá trình tu hành của đức phật A Di Đà qua nhiều kiếp, thấy rõ môi trường sống và sinh hoạt của chúng sinh tại chốn Tây Phương Cực Lạc do Đức Phật làm chủ.

Một người là bậc giáo chủ của cõi bà ta, một người lại là giáo chủ của cõi Tây Phương Cực Lạc. Một người là vị phật không có thật mà chỉ xuất hiện trong kinh phật giáo. Trong khi người kia lại được chứng thực là có thật trong lịch sử và là người sáng lập ra Phật Giáo.  Vì thế không thể xác định được liệu giữa Phật A Di Đà và Phật Thích Ca, đâu mới là vị Phật có trước cũng như vị phật nào lớn hơn.

Có rất nhiều ý kiến khác nhau, có người cho rằng Phật Thích Ca tức Như Lai Phật Tổ là lớn nhất vì ngài là người sáng lập ra Phật Giáo. Nhưng cũng có những ý kiến cho rằng, A Di Đà mới là vị phật bậc nhất:

“Ba đời 10 phương Phật

A DI ĐÀ bậc nhất

Chín phẩm độ chúng sanh

Oai đức không cùng cực.”

Tuy nhiên trên thực tế, không có vị phật nào lớn nhất, mỗi vị Phật đều cơ duyên hội ngộ với chúng sanh. Tin tưởng vào Phật, học theo Phật Giáo, tâm luôn hướng thiện, tích đức chính là những điều mà Phật Giáo muốn nhắc nhở với bất kỳ ai. Người xưa tin rằng, nếu nhất tâm tu hành cho đến khi chứng đắc Thành Quả sẽ được giải thoát khỏi cõi Ta Bà về với chốn Tây Phương Cực Lạc vui vẻ nơi Phật A Di Đà trị vì.

Phân biệt tượng phật A Di Đà và Phật Thích Ca

Thông qua hình dáng

Hình dáng đặc trưng của tượng Phật A Di Đà trên đầu có các cụm tóc xoắn ốc, mắt nhìn xuống, miệng thoáng nụ cười cảm thông cứu độ, người khoác trên người áo cà sa màu đỏ (tượng trưng cho màu mặt trời lặn phương Tây), áo có thể khoát vuông ở cổ, trước ngực có dấu ấn chữ “vạn”.

Tượng phật A Di Đà với chữ vạn trước ngực

Trong khi đó, tượng phật Thích Ca thì tóc Phật Thích Ca có thể búi tó hoặc có các cụm xoắn ốc. Phật Thích Ca mặc áo cà sa hoặc áo choàng qua cổ màu vàng hoặc màu nâu, nếu có hở ngực thì trước ngực của Phật Thích Ca không có chữ “vạn”. Phật có thể ngồi trên tòa sen, nhục kế trên đỉnh đầu, đôi mắt chỉ mở ba phần tư.

Thông qua tư thế tay, dáng ngồi

Tư thế tay Phật A Di Đà trong tư thế đứng, tay sẽ làm ấn giáo hóa – tức là tay phải sẽ đưa ngang vai, chỉ lên, tay trái đưa ngang bụng, chỉ xuống, hai lòng bàn tay luôn hướng về phía trước và mỗi tay thì ngón trỏ và ngón cái chạm nhau tạo thành vòng tròn.

Phật A Di Đà ngoài ra cũng có thể ngồi kiết già trên tòa sen, tay bắt ấn thiền, tay để ngang bụng, lưng bàn tay phải nằm chồng lên trên lòng bàn tay trái, hai ngón cái chạm vào nhau. Trên tay Phật có thể giữ thêm một cái bát, là dấu hiệu cho giáo chủ.

Phật A Di Đà

Một dạng ấn thiền khác ở tượng Phật A Di Đà là các ngón tay giữa, ngón áp út và ngón út của hai bàn tay nằm lên nhau, ngón cái và ngón trỏ tạo thành hai vòng tròn chạm nhau. Ấn này còn được gọi với cái tên là Ấn thiền A Di Đà.

Tượng Phật Thích Ca được tạo hình với tư thế tay xếp ngay ngắn trên đùi, hai bàn tay bắt ấn thiền, ấn kim cương hiệp chưởng và ấn chuyển pháp luân… Phật Thích Ca cũng có thể cầm một chiếc bát màu đen hoặc xanh đen, dấu hiệu cho giáo chủ.

Phật Thích Ca

Các nhân vật đi kèm

Bên canh phân biệt thông qua hình dáng, tư thế tay và dáng ngồi thì còn có thể phân biệt tượng Phật A Di Đà và Phật Thích Ca thông qua các nhân vật đi kèm.

Phật A Di Đà thường được đặt cùng hai vị Bồ Tát là Quan Thế Âm Bồ Tát (bên trái, cầm cành dương liễu và bình nước cam lộ) và Đại Thế Chí Bồ Tát (bên phải, cầm bông sen)

Phật Thích Ca Mâu Ni thì thường đi cùng  hai vị tôn giả là Ca Diếp (vẻ mặt già, bên trái) và A Nan Đà (vẻ mặt trẻ, bên phải). Đây là hai đại đệ tử của Phật Thích Ca khi người còn ở thế gian.

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *