14. Trích yếu Ngữ Lục của đại sư Mộng Ðông Triệt Ngộ đời Thanh

Hết thảy pháp môn lấy minh tâm làm chính, hết thảy hạnh môn lấy tịnh tâm làm trọng.

Cách trọng yếu để minh tâm không gì bằng Niệm Phật. Nhớ Phật, niệm Phật, hiện tại, tương lai nhất định thấy Phật. Chẳng nhọc phương tiện, tự được tâm khai. [Như vậy], niệm Phật chẳng phải là cách trọng yếu để minh tâm hay sao?

Cách trọng yếu để tịnh tâm cũng không gì bằng Niệm Phật. Một niệm tương ứng một niệm Phật; niệm niệm ứng với niệm niệm Phật.

Thanh châu gieo vào nước đục, nước đục chẳng thể không trong. Phật hiệu gieo vào tâm loạn, tâm loạn chẳng thể không thành tâm Phật. Như vậy, Niệm Phật chẳng phải là cách trọng yếu để tịnh tâm hay sao?

Một câu Phật hiệu gồm đủ những điểm cốt yếu của cả hai môn Ngộ và Tu. Ðối với Ngộ thì tin ở trong ấy; đối với Tu thì chứng cũng ở trong ấy. Gồm đủ cả Tín, Giải, Tu, Chứng; những điểm cốt lõi của hết thảy các kinh Ðại Thừa, Tiểu Thừa không gì là chẳng vét sạch. Một câu Di Ðà chẳng phải là đạo chí yếu hay sao?

Cái tâm trong một niệm hiện tiền của chúng ta là toàn chơn thành vọng, toàn vọng chính là chơn, trọn ngày bất biến, trọn ngày tùy duyên, chẳng nương theo duyên của Phật giới để nghĩ đến Phật giới thì lại nghĩ đến cửu giới. Chẳng nghĩ đến Tam Thừa sẽ nghĩ đến lục phàm. Chẳng nghĩ đến trời, người thì sẽ nghĩ đến tam đồ. Chẳng nghĩ đến quỷ, súc sẽ nghĩ đến địa ngục.

Hễ đã có tâm thì chẳng thể vô niệm. Tâm thể vô niệm chỉ có mình đức Phật chứng được; từ bậc Ðẳng Giác trở xuống thảy đều hữu niệm.

Hễ khởi lên một niệm ắt sẽ lạc vào mười giới, mà chẳng có niệm nào ra ngoài mười giới vì không có gì ngoài mười pháp giới cả. Mỗi một niệm khởi lên là một duyên để thọ sanh. Nếu thực sự biết lý ấy mà chẳng niệm Phật thì có đời nào có!

Nếu tâm này có thể tương ứng với đại từ, đại bi, bình đẳng, công đức của y báo, chánh báo và tương ứng với vạn đức hồng danh thì đó chính là niệm Phật pháp giới.

Nếu có thể tương ứng với Bồ Ðề tâm, lục độ, vạn hạnh thì chính là niệm Bồ Tát pháp giới.

Nếu có thể tương ứng với tâm Vô Ngã và Thập Nhị Nhân Duyên thì là niệm Duyên Giác pháp giới.

Nếu có thể tương ứng với tâm Vô Ngã, quán sát Tứ Ðế thì là niệm Thanh Văn pháp giới.

Nếu có thể tương ứng với Tứ Thiền, Bát Ðịnh và Thập Thiện thượng phẩm thì là niệm Thiên pháp giới.

Nếu tương ứng với Ngũ Giới thì là niệm Nhân pháp giới.

Nếu có thể tu các pháp: Giới, Thiện v.v… nhưng còn ôm lòng sân hận, kiêu mạn, thắng bại sẽ lạc vào Tu La pháp giới.

Nếu tâm nghĩ đến mười điều ác thuộc phẩm hạ một cách thong thả, nhẹ nhàng thì lạc vào Súc Sanh pháp giới.

Nếu tâm nghĩ đến mười điều ác bậc trung nửa do dự, nửa hăng hái thì đọa vào Ngạ Quỷ pháp giới.

Nếu tâm tương ứng với Thập Ác bậc thượng một cách mạnh mẽ, hùng hổ thì đọa vào Ðịa Ngục pháp giới.

Thập Ác là giết, trộm, dâm, nói dối, nói thêu dệt, nói đôi chiều, tham, sân, tà kiến. Trái nghịch với mười điều này là Thập Thiện.

Hãy nên tự ngầm kiểm điểm những ý niệm phát khởi hằng ngày xem chúng tương ứng với pháp giới nào nhiều nhất, tương ứng với pháp giới nào mạnh mẽ nhất thì còn cần gì phải nhọc công hỏi người khác chỗ nào để ngày sau an thân lập mạng nữa!

Một niệm hiện tiền của chúng ta duyên sanh vô tánh, vô tánh duyên sanh, nếu chẳng sanh Phật giới sẽ sanh trong cửu giới.

Nếu xét về duyên sanh vô tánh thì chúng sanh và Phật bình đẳng, là một, là không. Nếu xét về vô tánh duyên sanh thì mười giới sẽ hơn kém thật khác xa nhau!

Vua A Kỳ Ðạt lúc lâm chung bị người hầu [chuyên giữ việc] đuổi ruồi dùng phất trần phất qua mặt, vì khởi lên một niệm sân hận nên bị đọa làm rắn độc.

Một người đàn bà vượt sông, xẩy tay, đứa con rơi xuống nước; do cứu con nên cùng bị chìm. Vì bà từ tâm nên được sanh lên trời.

Chỉ do một niệm Từ hay Sân mà phân ra trời và súc sanh. Như vậy, há đâu chẳng dè dặt một niệm duyên sanh lúc lâm chung sao? Nếu như đem tâm này duyên niệm đức Phật Di Ðà, cầu sanh Tịnh Ðộ thì lẽ đâu chẳng được thấy Phật vãng sanh?

Nhưng nhất niệm ấy chẳng thể cầu may mà có được, cần phải dốc tấm lòng thành, giữ cho tinh thuần.

Vì vậy, chúng ta phải ngàn niệm, vạn niệm một câu A Di Ðà này, niệm suốt ngày, suốt năm, không gì là chẳng vì để một niệm này được thuần thục mới thôi. Nếu quả thật đã đạt một niệm thuần thục thì lúc lâm chung sẽ chỉ có một niệm này, không còn niệm nào khác.

Trí Giả đại sư nói: “Hễ lâm chung tâm tại định thì tâm ấy là tâm thọ sanh Tịnh Ðộ”. Chỉ một niệm này, không niệm nào khác, há chẳng phải là tâm định hay sao?

Nếu quả thật niệm được như thế mà chẳng thấy A Di Ðà Phật thì sẽ thấy ai đây? Chẳng sanh Tịnh Ðộ sẽ sanh cõi nào đây? Chỉ sợ chúng ta chẳng tự tin nổi đấy thôi!

Thật vì sanh tử, phát Bồ Ðề tâm, dùng tín nguyện sâu để trì danh hiệu Phật. Mười sáu chữ ấy chính là một đại cương tông của pháp môn Niệm Phật.

Nếu chẳng phát khởi nổi tâm thật sự vì sanh tử thì hết thảy khai thị đều thành hý luận. Hết thảy sự khổ nặng nề trong thế gian không gì hơn được sanh tử. Không kết thúc được sanh tử thì sanh tử, tử sanh, sanh sanh, tử tử, ra khỏi bào thai này, vào trong bào thai khác, bỏ cái đãy da này để lấy cái đãy da khác, khổ chẳng kham nổi!

Huống hồ, chưa ra khỏi luân hồi thì khó tránh khỏi đọa lạc: hễ một niệm sai lầm ắt lại vào trong nẻo ác. Tam đồ dễ vào, khó ra. Thời gian trong địa ngục dài lâu, khổ sở nặng nề.

Mỗi phen nghĩ đến, ngũ tạng như nung. Vì thế ta nay nên xót đau nghĩ đến sanh tử như làm tang cho cha mẹ, như cứu đầu cháy.

Nhưng, ta có sanh tử, ta cầu xuất ly; hết thảy chúng sanh đều ở trong sanh tử, đều phải nên xuất ly. Bọn họ cùng ta vốn đồng một thể, đều là cha mẹ nhiều đời của ta, là chư Phật trong vị lai. Nếu chẳng nghĩ cách phổ độ họ, chỉ cầu tự lợi thì về lý đã khiếm khuyết mà tâm cũng chưa an.

Huống hồ, đại tâm chẳng phát thì ngoài chẳng thể cảm thông chư Phật, trong chẳng thể khế hợp bổn tánh, trên chẳng thể viên thành Phật đạo, dưới chẳng thể lợi khắp quần sanh thì ân ái từ vô thỉ làm sao giải thoát nổi, oan khiên từ vô thỉ làm sao cởi mở nổi? Tội nghiệp bao kiếp khó nỗi sám trừ, thiện căn bao kiếp khó bề thành thục. Tu hành điều gì cũng gặp nhiều chướng duyên mà dù có thành được cái gì thì cũng biến thành thiên tiểu. Vì thế, cần phải phát đại Bồ Ðề tâm tương xứng với tánh.

Ðại tâm đã phát thì nên tu đại hạnh. Nhưng trong hết thảy các hạnh môn, tìm lấy cách thực hành giản dị nhất, dễ thành tựu nhất, ổn thỏa, thích đáng tột bực nhất, viên đốn chí cực thì không có gì bằng dùng lòng tín nguyện sâu xa trì danh hiệu Phật vậy.

Tín vừa nói đó nghĩa là: lời nói phạm âm của đức Thích Ca Như Lai quyết không dối trá, tâm đại từ bi của đức Di Ðà Thế Tôn quyết chẳng nguyện xuông. Hễ lấy niệm Phật cầu sanh làm nhân ắt sẽ cảm quả gặp Phật vãng sanh giống như trồng dưa được dưa, gieo đậu được đậu; tiếng vang phải vọng theo tiếng, bóng phải nương theo hình.
Nhân chẳng bỏ luống thì quả chẳng lỡ làng. Như vậy chẳng cần phải đợi hỏi Phật mới có thể tự tin.

Huống hồ tâm tánh một niệm hiện tiền của chúng ta suốt ngày tùy duyên, suốt ngày bất biến, ngang thì trọn khắp, dọc thì tột cùng, đương thể vô ngoại, Tịnh Ðộ Di Ðà đều ở trong ấy.

Dùng cái tâm sẵn có Phật của mình để niệm đức Phật sẵn có trong tâm ta thì đức Phật sẵn có trong tâm ta lại chẳng tương ứng với cái tâm sẵn có Phật của ta hay sao?

Vãng Sanh Truyện đã ghi đầy dẫy những tướng lành lúc lâm chung, há nào lừa dối ta ư?

Tin như thế rồi, tự mong muốn, ưa thích thiết tha. Từ sự vui trong cõi ấy, ngoái nhìn nỗi khổ trong Sa Bà thì lòng chán nhàm càng sâu, như lìa hầm xí, như ra khỏi lao ngục. Từ nỗi khổ Sa Bà, vọng trông niềm vui trong cõi kia, vui mừng, ưa thích càng thêm thiết tha như quay về cố hương, như rảo chân đến chỗ có của báu.

Nói tóm lại là như khát nghĩ đến uống, như đói mong ăn, như bệnh khổ ước ao thuốc hay, như trẻ thơ mong nhớ mẹ, như tránh kẻ oan gia vác dao bức bách, như ngã vào nơi nước lửa mong gấp được kéo lên.

Nếu quả thật có thể khẩn thiết như thế thì hết thảy cảnh duyên chẳng thể dẫn dắt, xoay chuyển được!

Sau đấy, dùng cái tâm tín nguyện ấy chấp trì danh hiệu. Trì một tiếng là thành một hạt giống cho chín phẩm sen. Niệm một câu là chánh nhân để vãng sanh.

Phải sao cho tâm tâm tiếp nối, niệm niệm chẳng sai, chỉ một mực chuyên
cần, chẳng tạp, chẳng gián đoạn, càng lâu càng vững, càng trì càng thiết tha, lâu ngày tự thành một khối, nhập nhất tâm bất loạn.

Nếu thật sự như thế mà chẳng được vãng sanh thì Thích Ca Như Lai hóa ra nói dối, Di Ðà Thế Tôn chỉ nguyện xuông; có lẽ nào như thế?

Nơi ải đầu sanh tử của chúng ta chỉ có hai thứ lực:

a. Một là tâm tình lắm mối, thiên đọa chỗ nặng. Ðó là tâm lực.

b. Hai là như người mắc nợ, kẻ nào mạnh hơn sẽ kéo đi trước. Ðấy là nghiệp lực.

Nghiệp lực rất lớn, nhưng tâm lực càng lớn hơn vì nghiệp không có tự tánh, hoàn toàn nương vào tâm. Tâm có thể tạo nghiệp, tâm có khả năng chuyển nghiệp. Vì thế, cái gì tâm đặt nặng, nghiệp lực nào mạnh nhất sẽ quyết định việc thác sanh.

Nếu tâm chú trọng tu Tịnh nghiệp thì Tịnh nghiệp sẽ mạnh. Tâm nặng, nghiệp mạnh thì chỉ có hướng thẳng về Tây Phương, ngày sau báo hết mạng tận, quyết định sẽ vãng sanh Tây Phương, chẳng sanh vào chỗ nào khác nữa. Giống như cây to, tường to, lúc bình thường đã ngả về phía Tây thì đến ngày nào nó đổ xuống quyết sẽ chẳng ngã sang chỗ nào khác!

Thế nào là tâm chú trọng? Chúng ta tu tập Tịnh nghiệp thì cốt sao tin cho sâu, nguyện cho thiết. Do tín nguyện thâm thiết nên hết thảy tà thuyết chẳng
thể lay động, lầm loạn đuợc; hết thảy cảnh duyên chẳng thể dẫn dắt, xoay chuyển được.

Nếu ngay đang lúc tu Tịnh nghiệp, đại sư Ðạt Ma chợt hiện ra trước mặt bảo:

- Ngươi nên bỏ niệm Phật để thọ trì pháp Thiền Trực Chỉ Nhân Tâm Kiến Tánh Thành Phật.

Thì cũng nên hướng về Tổ làm lễ, thưa:

- Con đã thọ pháp môn Niệm Phật của đức Như Lai, phát nguyện thọ trì, trọn đời chẳng đổi, chẳng dám tự trái bổn thệ.

Dẫu cho đức Thích Ca Như Lai chợt hiện thân dạy:

- Trước đây ta nói pháp môn Niệm Phật chỉ là phương tiện nhất thời, ngươi hãy để pháp môn Niệm Phật lại, ta sẽ vì ngươi giảng pháp môn thù thắng.
Thì cũng hướng về Phật, dập đầu lễ, bày tỏ:

- Con trước đã bẩm thọ pháp môn Niệm Phật của Thế Tôn, phát nguyện hễ còn một hơi thở quyết chẳng đổi thay, chẳng dám tự trái nghịch bổn nguyện.

Dù Phật, Tổ hiện thân còn chẳng thay đổi niềm tin của mình, huống là
những tà thuyết hư vọng của ma vương, ngoại đạo lại có thể lung lạc, lầm loạn mình được ư? Tin như thế mới đáng gọi là sâu.

Dẫu cho bánh xe sắt nung đỏ xoay vần vũ trên đỉnh đầu, cũng chẳng vì nỗi khổ ấy mà thối thất ý nguyện vãng sanh.

Dù cho ngũ dục thắng diệu của Luân Vương hiện tiền, cũng chẳng vì sự vui đó mà thối thất ý nguyện vãng sanh.

Thuận nghịch tột bậc như thế vẫn chẳng đổi ý nguyện huống là những hoàn cảnh thuận nghịch nhỏ nhặt của thế gian lại có thể lay chuyển nổi hay sao?
Nguyện như thế mới đáng gọi là thiết tha.

Tin sâu, nguyện thiết mới gọi là tâm đặt nặng để tu Tịnh nghiệp thì Tịnh nghiệp ắt sẽ mạnh mẽ.

Do tâm đặt nặng nên dễ thuần; do nghiệp mạnh nên dễ chín. Khi Tịnh nghiệp Cực Lạc đã chín thì nhiễm duyên Sa Bà liền hết nên khi lâm chung dù có muốn cảnh giới luân hồi tái hiện trước mắt, Tịnh Ðộ Di Ðà chẳng hiện diện thì cũng chẳng thể được!

Nhưng tín nguyện như thế cần phải gìn giữ cho thuần thì lúc lâm chung mới chẳng lạc vào ngõ rẽ.

Biển cả Phật pháp, do Tín thì được vào. Trong pháp môn Tịnh Ðộ, Tín càng trọng yếu.

Xưa kia, Vương Trọng Hồi hỏi Dương Vô Vi: “Niệm Phật như thế nào để khỏi bị gián đoạn?” Ông Dương đáp: “Hễ một phen tin rồi thì chẳng còn nghi nữa!”. Ông Vương vui vẻ ra đi. Lâu sau, ông Dương mộng thấy ông Trọng Hồi đến cảm tạ: “Nhân được ngài chỉ dạy, tôi được đại lợi ích, nay đã vãng sanh Tịnh Ðộ”.

Một là lấy thật vì sanh tử phát Bồ Ðề tâm làm đường lối chung cho việc học đạo.

Hai là lấy tín nguyện sâu trì danh hiệu Phật làm Tịnh Ðộ chánh tông.

Ba là lấy nhiếp tâm chuyên chú mà niệm làm phương tiện để thực hành.

Bốn là lấy việc chiết phục phiền não hiện hành làm trách vụ trọng yếu để tu tâm.

Năm là lấy việc giữ vững tứ trọng giới pháp làm căn bản để nhập đạo.

Sáu là lấy các thứ khổ hạnh để làm trợ duyên tu đạo.

Bảy là lấy nhất tâm bất loạn làm chỗ quy túc của Tịnh hạnh.

Tám là lấy các thứ tướng lành để chứng nghiệm việc vãng sanh.


Tám điều này ai nấy đều nên hiểu biết tường tận. Người tu Tịnh nghiệp chẳng thể chẳng biết.

Chấp trì danh hiệu là phải khư khư ôm giữ, giữ chắc trong tâm chẳng hề tạm quên, hễ hơi có một niệm gián đoạn hoặc xen tạp thì chẳng phải là chấp trì. Niệm niệm liên tục chẳng hở, chẳng tạp là chơn tinh tấn.

Tinh tấn chẳng thôi mới dần dần chứng nhập Nhất Tâm Bất Loạn, viên thành tịnh nghiệp. Nếu đạt đến Nhất Tâm Bất Loạn mà vẫn tinh tấn chẳng ngơi thì sẽ thấy mình khai trí huệ, phát biện tài, đắc thần thông, thành Niệm Phật tam muội; cho đến các thứ tướng lành linh dị đều hiện tiền cả!

Nhưng hành nhân chớ nên mang lòng cầu được chứng nghiệm, chỉ nên tận sức cho đạt tới Nhất Tâm Bất Loạn mà thôi!

Lúc niệm Phật nên buông xuống vạn duyên, chỉ đề giữ một niệm như cứu đầu đang bị cháy, như làm ma cho bố mẹ, như gà ấp trứng, như rồng dưỡng châu, chẳng cầu điều chứng nghiệm nhỏ nhặt, chẳng cầu mau thành, chỉ nhất tâm thường nương theo niệm. Ðấy gọi là vô thượng thâm diệu Thiền.

Như vậy thì căn, thân, thế giới đều ngầm biến chuyển theo tâm mình trong mỗi niệm, phàm tâm, nhục nhãn làm sao thấy biết được nổi!

Ðến lúc báo hết, mạng tận, Di Ðà và thánh chúng chợt hiện trước mặt,
hoặc thấy mùi hương lạ, nhạc trời, các tướng thiêng lành; người đời mới cho là Tịnh nghiệp thành thục, nhưng có phải là Tịnh nghiệp đến lúc đó mới thành đâu?

Niệm Phật nên sanh bốn tâm:

- Một là từ vô thỉ đến nay tạo nghiệp dường ấy, nên sanh hổ thẹn.

- Hai là được nghe pháp môn này nên sanh tâm vui mừng.

- Ba là vô thỉ nghiệp chướng, pháp này khó bề gặp gỡ, nên sanh tâm đau xót.

- Bốn là Phật từ bi như thế nên sanh tâm cảm kích.

Có được một trong bốn tâm này thì Tịnh nghiệp mới có thể thành tựu.

Niệm Phật phải lâu bền, không được gián đoạn. Gián đoạn thì Tịnh nghiệp chẳng thành được nổi!

Hãy nên dũng mãnh, chẳng nên lười mỏi; lười mỏi thì Tịnh nghiệp cũng chẳng dễ thành. Nếu lâu dài mà chẳng dũng mãnh thì sẽ thối thất. Dũng mãnh mà chẳng lâu bền thì chẳng tiến triển nổi!

Trong lúc niệm Phật chẳng tưởng đến gì khác. Chẳng tưởng đến điều gì khác chính là Chỉ. Trong lúc niệm Phật nên rành rẽ phân minh; có thể rành rẽ phân minh thì chính là Quán. Trong một niệm đủ cả Chỉ lẫn Quán, không cần có Chỉ Quán nào khác. Chỉ là nhân của Ðịnh; Ðịnh là quả của
Chỉ. Quán là nhân của Huệ; Huệ là quả của Quán.

Một niệm bất sanh, rành rẽ phân minh chính là Tịch mà Chiếu. Rành rẽ phân minh, một niệm chẳng sanh chính là Chiếu mà Tịch.

Có thể làm được như vậy thì Tịnh nghiệp ắt thành. Thành được như vậy thì là thượng phẩm. Từ một người cho đến trăm, ngàn, vạn, ức người tu như thế thì đều thành tựu như thế. Người niệm Phật chẳng nên lưu tâm hay sao?

 

 

 

Nhận định:

Ðại Sư ngàn lời muôn lẽ chỉ nhằm dạy ta thật vì sanh tử, phát Bồ Ðề tâm, dùng tín nguyện sâu trì danh hiệu Phật.

Trong lúc niệm Phật nên buông xuống vạn duyên, chỉ giữ mỗi một niệm, chẳng cầu sự chứng nghiệm nhỏ nhặt, chẳng cầu chóng thành tựu, chỉ nhất tâm dựa vào niệm, niệm đến mức không còn tưởng gì khác thì đó là Chỉ.

Niệm đến mức rành rẽ phân minh thì đó là Quán.

Trong một niệm đủ cả Chỉ lẫn Quán, Tịch, Chiếu không hai. Nếu làm được như vậy thì ắt sanh trong Thượng Phẩm. Xin từ đây mà vào, nhiếp tâm chuyên chú mà niệm, chẳng hở, chẳng tạp, tinh tấn chẳng ngơi.

Bài 15

Trang chủ