6. Nương theo nghiệp phát hiện

Sách Vạn Thiện Ðồng Quy Tập chép: “Ôi! hai vầng thiện ác, hai báo khổ, vui do ba nghiệp tạo, do bốn duyên sanh, bởi sáu nhân thành, thuộc vào năm quả. Nếu có một tâm niệm giận dữ, tà dâm thì [đó là] nghiệp địa ngục. Keo tham chẳng bố thí thì thành nghiệp ngạ quỷ. Ngu si che lấp tối tăm là nghiệp súc sanh. Kiêu căng, ngạo mạn là nghiệp Tu La. Giữ chắc năm giới là nghiệp loài người. Tu ròng Thập Thiện là nghiệp cõi trời. Chứng ngộ nhân không là nghiệp Thanh Văn. Biết duyên tánh ly là nghiệp Duyên Giác. Tu trọn lục độ là nghiệp Bồ Tát. Chơn từ bình đẳng là nghiệp của Phật. Nếu tâm tịnh thì đài hương, cây báu, hóa sanh cõi tịnh. Tâm nhơ thời gò nổng, hầm hố, thác sanh trong uế độ. Ðấy đều là cái quả bình đẳng, là duyên để cảm được sự tăng thượng. Rời ngoài nguồn cội tự tâm thì chẳng có cái Thể nào khác cả!”


7. Bốn thứ hạnh nguyện

Vì viên tri phủ Hàng Châu là ông thị lang Mã Lương nên ngài Từ Vân Sám Chủ bèn soạn văn Quyết Nghi về hai môn hạnh nguyện. [Theo ngài] hạnh nguyện gồm có bốn môn:

a. Thứ nhất là Lễ Sám Môn: lễ Phật, sám hối, trừ sạch nghiệp chướng khiến cho thân, tâm trong sạch như ruộng sạch cỏ.

b. Thứ hai là Thập Niệm Môn: chấp trì thánh hiệu, định tâm thành hạnh, lập nguyện định hạn kỳ, gieo chánh nhân vãng sanh Tây phương như gieo hạt giống.

c. Thứ ba là Hệ Duyên Môn: yêu mến, giữ gìn, trưởng dưỡng, thấm nhuần mầm, thân [của chánh nhân vãng sanh] như xối mưa ngọt.

d. Thứ tư là Chúng Phước Môn để giúp cho [chánh nhân vãng sanh được] xum xuê, chóng kết thành hoa, quả, giống như tưới bón cho mầu mỡ.

Tuy có các tướng trạng như vậy, nhưng nếu chẳng rảnh rỗi thì chỉ cần tu một môn cũng đều được vãng sanh. Mỗi một môn trong bốn môn này đều có đủ Hạnh, Nguyện, đều là chánh nhân vậy. Trong những ngày lục trai cũng nên tu pháp Thập Niệm; còn đối với hai môn kia thì tùy sức mà hành.


8. Lúc ngủ nhập quán

Tập Chư Kinh Lễ Sám Hối Văn chép: “Khi nhập quán và trước khi ngủ, trước hết, người tu Tịnh Ðộ nên đứng lên chắp tay, nhất tâm hướng về Tây, mười lần niệm A Di Ðà Phật, Quán Âm, Thế Chí, Thanh Tịnh Ðại Hải Chúng xong, liền nguyện rằng: ‘Ðệ tử hiện còn là phàm phu, tội nghiệp sâu nặng, luân hồi trong sáu nẻo chưa xuất ly nổi. Nay gặp bạn lành được nghe danh hiệu công đức của Phật Di Ðà, một lòng xưng niệm nguyện sanh Tịnh Ðộ. Nguyện Phật xót thương, xòe tay tiếp dẫn. Ðệ tử chẳng biết thân tướng quang minh của Di Ðà Thế Tôn. Nguyện Phật, Bồ Tát thị hiện thân tướng và các sự trang nghiêm trong cõi nước’.

Nói lời ấy xong, nhất tâm chánh niệm, rồi thì nhập quán hay ngủ. Hoặc trong khi đang phát nguyện được thấy các điềm lành, hoặc khi đang nhập quán được thấy, hoặc trong mộng được thấy. Gần đây, pháp này có sự linh nghiệm lớn, chẳng thể thuật đủ. Có siêng gắng tu hành thì mới có thể tin là pháp này chẳng dối vậy.


9. Hiếu dưỡng cha mẹ

Ngài Trường Lô Trách thiền sư soạn văn khuyên hiếu thuận gồm một trăm hai mươi thiên. Một trăm thiên đầu giảng rõ hiếu dưỡng ngọt bùi là sự hiếu thế tục. Hai mươi thiên sau giảng rõ: khuyên cha mẹ tu Tịnh Ðộ là sự hiếu xuất thế. Cái hiếu của thế gian một đời là hết; cái hiếu xuất thế không lúc nào tận. Không có điều hiếu nào lớn bằng việc làm cho cha mẹ được vãng sanh Tịnh Ðộ! Cha mẹ còn sống mà chẳng khuyên lơn như vậy được thì một mai cha mẹ khuất bóng rồi, dẫu đau lòng tận lực hậu lễ cũng nào có ích gì?

Quán Kinh trước sau hai lượt dạy hiếu dưỡng cha mẹ là Tịnh nghiệp, chính là ý này. Lại nói: Khi cha mẹ tin biết niệm Phật là lúc trồng hoa sen. Lúc nhất tâm niệm Phật là lúc hoa sen ló khỏi mặt nước. Niệm Phật thành công là lúc hoa nở thấy Phật vậy. Người hiếu tử xét thấy khi cha mẹ sắp vãng sanh bèn đem các việc lành cha mẹ đã làm được trong cả đời soạn sẵn thành một bài, luôn luôn đọc lên khiến mẹ cha hoan hỷ. Lại khuyên cha mẹ khi nằm, ngồi đều hướng về Tây để chẳng quên Tịnh Ðộ. Bày tượng Di Ðà, thiêu hương, gõ khánh, niệm Phật chẳng dứt. Lúc [cha mẹ] xả báo, lại càng dụng tâm, chớ có than khóc làm cha mẹ mất chánh niệm. Cha mẹ được sanh Tịnh Ðộ hưởng các điều khoái lạc, há chẳng phải là việc tốt lành sao! Hiếu dưỡng cả một đời chính là lúc này đây. Nhắn những kẻ con hiếu cháu thuận chớ quên điều ấy!

(Phần 10 bị thiếu, Tịnh xin đăng tiếp phần 11).


11. Thân cận bạn lành

Kinh Viên Giác dạy: “Chúng sanh đời mạt muốn phát Ðại tâm nên cầu thiện tri thức. Muốn tu hành thì nên cầu hết thảy người chánh tri kiến, tâm chẳng trụ tướng, chẳng vướng cảnh giới Thanh Văn, Duyên Giác, tuy hiện trần lao mà tâm thường thanh tịnh. Dẫu hiện có các lầm lỗi nhưng khen ngợi phạm hạnh, chẳng hề khiến chúng sanh làm điều chẳng đúng giới luật. Cầu được người như thế thì liền được thành tựu vô thượng Bồ Ðề”.

Lại như luận Trí Ðộ chép: “Với các đạo sư, tưởng như Thế Tôn. Nếu có người có thể khai thị, giải thích nghĩa sâu, xóa tan mối nghi, có ích cho mình thì tận tâm cung kính, chẳng quan tâm đến các điều điều ác khác [của người ấy]. Ví như túi rách đựng của báu, chẳng vì do [túi đựng] tệ ác mà chẳng nhận lấy của báu ấy. Lại như ban đêm đi đường hiểm, có người tệ hại cầm đuốc[soi đường] thì chẳng vì người ấy xấu ác mà chẳng cần nhờ [ánh đuốc] soi”.


Kinh Hoa Nghiêm dạy: ‘Ðối với tự thân nên sanh ý tưởng bịnh, khổ. Với thiện tri thức, tưởng như y vương. Ðối với pháp họ nói, tưởng như thuốc tốt lành. Với pháp họ tu hành, tưởng như trừ bịnh. Nếu nghe được một câu pháp vị tằng hữu (chưa từng có) thì còn hơn có được bảy báu chứa đầy trong cả tam thiên đại thiên thế giới và ngôi Thích, Phạm, Chuyển Luân’.

Luận Khởi Tín chép: “Như tánh lửa [có sẵn] nơi cây là chánh nhân của lửa. Nếu không có người biết, cũng chẳng nhờ đến phương tiện mà có thể tự đốt lấy cây thì thật chẳng có lẽ ấy. Chúng sanh cũng thế: Tuy có sức chánh nhân huân tập, nhưng nếu chẳng gặp chư Phật, Bồ Tát, thiện tri thức để làm duyên mà tự mình có thể đoạn được phiền não, nhập Niết Bàn thì thật chẳng có lẽ ấy”.




Tiếp theo

Trở lại

Trở ra