50. Lược giải về năm giới

Một là chẳng sát sanh. Hai là chẳng trộm cắp. Ba là chẳng tà dâm. Bốn là chẳng nói dối. Năm là chẳng uống rượu.

a. Chẳng sát sanh: Loài vật cũng như ta đều tham sống sợ chết; ta đã ham sống thì lẽ nào loài vật lại muốn chết hay sao? Cứ theo đó mà suy thì có nên giết hại sanh mạng hay chăng? Hết thảy chúng sanh luân hồi trong sáu nẻo, tùy theo nghiệp lành, dữ sẽ bị thăng lên hay giáng xuống. Trong nhiều kiếp, ta cùng với chúng thay phiên làm cha mẹ, con cái; đáng lẽ phải nghĩ cách cứu vớt, lẽ nào nỡ giết hại? Hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh, đều sẽ thành Phật trong đời vị lai. Nếu ta đọa lạc thì còn mong chi cứu giúp nữa!

Hơn nữa, đã tạo nghiệp sát ắt sẽ đọa ác đạo, đền trả nợ cũ, giết hại lẫn nhau chẳng biết bao giờ mới thôi! Lấy đó mà suy thì há còn dám giết hại nữa ư? Nguyên do của sát sanh là vì ăn thịt. Nếu đã biết nhân duyên như trên vừa nói sẽ tự chẳng dám ăn thịt nữa. Kẻ ngu còn cho thịt là ngon, chẳng hề biết thịt vốn là do tinh, huyết tạo thành, trong chứa đầy phẩn, tiểu, ngoài lẫn chất dơ, tanh tưởi, hôi bẩn, ngon ở chỗ nào? Thường nên quán bất tịnh thì ăn vào ắt sẽ ọe ra. Thêm nữa, chúng sanh gồm có con người, cầm thú, giòi tửa, cá, tôm, muỗi mòng, rận, rệp. Hễ có sanh mạng thì đều là chúng sanh; chẳng thể bảo hễ con vật lớn thì chẳng nên giết, con vật nhỏ thì giết được. Kinh Phật đã dạy tường tận về lợi ích công đức của việc tránh sát sanh và phóng sanh. Người đời không đọc được những kinh ấy thì nên xem tác phẩm Vạn Thiện Tiên Tư của An Sĩ tiên sinh (*), ắt sẽ biết được đại khái vậy.

b. Chẳng trộm cắp: Ý nghĩa của giới cấm này dễ hiểu. Chẳng trộm cắp là nếu chẳng cho thì chẳng lấy. Người biết liêm sĩ chẳng nên phạm giới này. Bàn tỉ mỉ thì nếu người chẳng phải là bậc đại thánh, đại hiền sẽ khó lòng khỏi phạm. Dùng của công vào việc tư, tổn người lợi mình, cậy thế đoạt của, dùng kế đoạt vật, ganh tị sự phú quý của người khác, mong cho người nghèo hèn, phô trương làm lành để lấy tiếng, gặp các việc lành tâm chẳng hiểu chơn chánh. Hoặc như khi lập nghĩa học (trường học làm nghĩa, không thâu học phí) lại chẳng chọn thầy nghiêm khiến cho con em người khác lầm lạc. Hoặc khi thí thuốc men, chẳng xét thật, giả khiến người ta bị tổn mạng. Dẫu thấy nạn gấp nhưng chẳng cứu ngay; dùng dằng, hời hợt, thờ ơ hoặc là lầm lẫn, chỉ làm phận sự một cách tắc trách, lãng phí tiền tài người khác, trong lòng chẳng coi là khẩn yếu. Những điều như thế đều gọi là trộm cắp vậy.

d. Chẳng tà dâm: Người đời nam nữ ở tại gia sanh con đẻ cái thì trên là vì phong hóa, dưới là để [có người] thờ phụng tổ tiên. Vợ chồng hành dâm không phạm vào điều cấm; nhưng phải nên kính nhau như khách, chỉ cốt tiếp nối giòng giống, chẳng nên vì khoái lạc mà chạy theo lòng dục đến nỗi mất mạng. Tuy là vợ mình nhưng nếu tham lạc quá thì cũng là phạm giới; nhưng tội ấy vẫn còn nhẹ. Nếu chung chạ bậy bạ với người chẳng phải là vợ mình thì gọi là tà dâm; tội ấy rất nặng. Hành tà dâm là đem cái thân người này làm chuyện súc sanh; khi báo hết mạng dứt, trước sẽ đọa vào địa ngục, ngạ quỷ, sau sanh trong súc sanh đạo đến ngàn vạn ức kiếp chẳng thể xuất ly. Hết thảy chúng sanh đều do dâm dục sanh ra cho nên giới này khó giữ dễ phạm; ngay cả bậc đạt hiền có lúc còn vi phạm, huống là kẻ ngu. Nếu lập chí tu trì thì trước hết phải phân biệt lợi hại và phương pháp đối trị: coi như rắn độc, như gặp oán tặc, sợ hãi e dè thì dục tâm tự tắt. Phương pháp đối trị đã được dạy nhiều trong kinh Phật. Nếu người đời chẳng có duyên xem đến thì nên xem cuốn Dục Hải Hồi Cuồng của An Sĩ tiên sinh, ắt sẽ biết được đại khái.

d. Chẳng nói dối: Tức là lời nói đáng tin, chẳng thốt ra lời dối trá. Nếu thấy nói chẳng thấy, chẳng thấy bảo thấy, đem dối bảo thật, có nói là không v.v… những điều như vậy tâm và miệng chẳng tương ứng, muốn dối gạt người thì đều là nói dối cả. Nếu lại có kẻ chưa đoạn được hoặc nghiệp mà bảo là đã đoạn hoặc; tự chưa đắc đạo bảo là đắc đạo thì gọi là đại vọng ngữ; tội ấy rất nặng. Phạm đại vọng ngữ thì sau khi mạng chung sẽ quyết định đọa thẳng vào A Tỵ địa ngục, trọn chẳng có kỳ ra. Hiện nay, có nhan nhãn những người tu hành nhưng chẳng hề biết đến giáo lý Phật pháp nên phải thống thiết răn đe; quan trọng lắm lắm vậy.
Bốn điều trên đây chẳng luận là xuất gia hay tại gia, đã thọ giới hay chưa thọ giới, hễ phạm phải đều có tội lỗi vì thể tánh [của những sự ấy] là ác vậy. Người chẳng thọ giới tội lỗi một tầng; người đã thọ giới tội đến gấp đôi: ngoài tội làm điều ác còn thêm tội phạm giới. Nếu trì mà chẳng phạm thì công đức vô lượng vô biên. Vì vậy, cần phải gắng gỏi giữ giới vậy.

e. Chẳng uống rượu: là vì rượu hay làm mê loạn lòng người, hoại giống trí huệ. Uống vào khiến người điên đảo, hôn cuồng, làm điều xằng bậy nên Phật chế giới cấm hẳn. Phàm người tu hành đều chẳng được uống. Thêm nữa, đối với các thứ hành, hẹ, tỏi, kiệu… năm thứ hăng nồng, mùi vị hôi hám, thể chẳng thanh khiết. Ngũ huân hễ ăn chín thì phát sanh lòng dâm, ăn sống thì thêm nóng giận; phàm là kẻ tu hành đều chẳng được ăn.

Tuy nhiên, đối với người chưa thọ giới này thì ăn dùng ngũ huân đều chẳng bị tội; còn nếu đã thọ giới rồi còn ăn thì mắc thêm một tầng lỗi, tức là tội phạm Phật giới. Phật đã cấm ngăn mà ta lại phạm nên có tội.

Thêm nữa, như kinh đã dạy: Mỗi tháng tám ngày: mười bốn, mười lăm, hăm ba, hăm chín, ba mươi (nếu tháng thiếu thì kể những ngày hăm tám, hăm chín); phàm trong sáu ngày này Tứ Thiên Vương tuần hành Nam châu, quán sát nhân gian thiện, ác. Lại trong ba tháng Giêng, tháng Năm, tháng Chín, Ðế Thích dùng gương báu lớn chiếu thẳng xuống Nam châu, dò xét tội phước. [Trong những ngày ấy] đều phải nên trai giới niệm Phật, sám hối tu tỉnh. Ðó gọi là ba tháng trai và sáu ngày trai. Nếu trong mỗi tháng, lại tính thêm ngày mùng một, ngày mười tám, ngày hăm tám thì gọi là Thập Trai. Kẻ sơ phát tâm phải nên lưu ý điều này.


51. Lược giải về Thập Thiện

Một là chẳng sát sanh, hai là chẳng trộm cắp, ba là chẳng tà dâm, bốn là chẳng nói dối, năm là chẳng nói thêu dệt, sáu là chẳng nói đâm thọc, bảy là chẳng ác khẩu, tám là chẳng keo tham, chín là chẳng nóng giận, mười là chẳng tà kiến.
Trong những giới này, ba giới đầu tiên là thân nghiệp; bốn giới giữa là khẩu nghiệp; ba giới sau cùng thuộc về ý nghiệp. Nghiệp là sự đã có tướng hiển hiện. Nếu giữ gìn chẳng phạm thì gọi là Thập Thiện; nếu vi phạm chẳng giữ được thì gọi là Thập Ác. Thập Ác chia ra làm thượng, trung, hạ; sẽ cảm thân trong ba ác đạo: địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Thập Thiện cũng chia ra làm thượng, trung, hạ, làm thân trong ba đường lành: trời, người, a tu la. Nhân lành cảm quả lành, nhân ác cảm quả ác, quyết định không nghi, tơ tóc chẳng lầm. Những điều: giết, trộm, dâm, nói dối đã giảng trong phần nói về Ngũ Giới.

Nói thêu dệt là nói lời vô ích, phù phiếm, bóng bảy, đẹp đẽ, bàn soạn chuyện dâm dục khiến người nghĩ bậy...

Nói đôi chiều là đến người kia nói chuyện người này, hướng đến người này nói chuyện kẻ kia; khêu gợi thị, phi, đòn xóc hai đầu.

Ác khẩu là ngôn ngữ thô ác như đao, như kiếm khiến người khác bị vùi lấp, xấu xa, chẳng biết kiêng dè. Nếu lại còn mạo phạm đến cha mẹ người thì gọi là đại ác khẩu; tương lai sẽ mắc quả báo súc sanh. Ðã thọ Phật giới thì nên cẩn thận chớ phạm.

Keo tham là mình chẳng chịu thí của cải của mình cho người thì gọi là keo. Ðối với của cải của người ta chỉ muốn đoạt về mình thì gọi là tham.

Nóng giận là giận dữ: Thấy người đạt được điều gì thì lo buồn phẫn nộ; Thấy người bị mất mát, lòng khoan khoái sung sướng. [Nóng giận] cũng có nghĩa là phô phang thế lực, khinh rẻ cả người lẫn vật.

Tà kiến còn gọi là Si: Chẳng tin làm lành được phước, làm ác mắc tội; nói là không có nhân quả, chẳng có đời sau; khinh miệt hiền thánh, hủy kinh giáo của Phật.

Thập Thiện này bao gồm hết thảy mọi sự. Nếu có thể tuân hành Thập Thiện thì không ác chi chẳng dứt được, không điều lành chi chẳng tu. Tôi sợ kẻ sơ tâm chẳng thể hiểu rõ nên nay nêu đại lược hai việc:

a. Một là nên hiếu thuận phụ mẫu, chẳng trái, chẳng nghịch, thuận chiều uyển chuyển, khuyên cho cha mẹ nhập đạo, bỏ mặn ăn chay, trì giới, niệm Phật, cầu sanh Tây phương liễu thoát sanh tử. Nếu cha mẹ tin nhận thì không điều lành nào lớn hơn nữa! Nếu như cha mẹ nhất quyết chẳng làm theo thì cũng chớ ép buộc làm vì sẽ mất đạo Hiếu; chỉ nên đối trước Phật thay cha mẹ sám hối tội lỗi; đó mới là điều nên làm. Với anh em thời hết dạ; với vợ chồng thời tận kính; với con cái thời cực lực giáo huấn khiến chúng tốt lành. Cẩn thận chớ kiêu hãnh quá đáng đến nỗi thành sai trái. Ðối với xóm giềng làng xóm nên hòa mục, nhún nhường. Vì họ nói nhân quả, thiện ác khiến họ đổi ác, hướng lành. Ðối với bằng hữu thời tận tín; với tôi tớ thì từ ái. Ðối với việc công cũng tận tâm hết sức như làm việc tư. Hễ thấy người quen biết thì nếu như gặp cha bèn nói về lòng từ; gặp con liền nói về hiếu.

b. Về làm ăn thì dẫu đó vốn là chuyện cầu lợi nhưng cũng chẳng nên tăng giá, gạt gẫm người khác.

Nếu phong hóa này được thạnh hành ở một làng, một ấp thời tiêu được cái họa loạn chưa nảy mầm, đến nỗi hình phạt thành ra vô dụng thì có thể nói là ngoài đồng tận trung, trong nhà tận chánh vậy.


52. Lời khuyên chơn thành về việc tránh sát sanh

Nhân có các thiện tín đề xướng phóng sanh, gìn tiếc thân mạng nhằm vãn hồi sát kiếp; kẻ chẳng chấp nhận liền đến cật vấn rằng: “Kìa những kẻ góa bụa, cô độc, bần cùng, hoạn nạn đâu đâu cũng có, sao chẳng chu cấp? Lại cứ miệt mài cứu giúp giống dị loại chẳng liên quan gì đến mình? Há chẳng phải là lầm lạc đối với những điều hoãn, gấp, nặng, nhẹ như vậy hay sao?”

Ðáp: Ông chưa hiểu duyên do đức Như Lai dạy người tránh giết hại, phóng sanh. Ðó là vì người, vật dẫu khác nhưng Phật tánh vốn đồng. Loài vật vì ác nghiệp nên bị luân hồi trong dị loại; ta do nghiệp lành nên may mắn được làm thân người. Nếu chẳng biết xót thương cứ mặc tình ăn nuốt thì đến ngày nào đó ta hết phước mà tội chúng đã hết thì khó tránh khỏi phải đền trả từ đầu nhằm thỏa mãn miệng, bụng của chúng. Phải biết rằng đại kiếp đao binh đều do sát nghiệp đời trước cảm thành. Nếu không có sát nghiệp thì dù thân mình có gặp phải giặc cướp, chúng cũng sẽ khởi tâm lành nên mình chẳng bị tru lục.

Vả lại, đối với các thứ tai vạ ngang trái như: ôn dịch, nước, lửa, nếu giới sát, phóng sanh thì ít bị mắc phải. Bởi thế, ta biết được rằng: bảo vệ sanh mạng chính là tự bảo hộ mình. Tránh giết thì mới khỏi bị trời giết, quỷ thần giết, đạo tặc giết, các thứ đến báo oán giết. Ðối với những kẻ góa bụa, cô độc, bần cùng, hoạn nạn cũng đều tùy phận, tùy sức để chu cấp cho, chứ đâu có phải là người giới sát, phóng sanh tuyệt chẳng hề làm công đức ấy? Mà những người góa bụa ấy tuy thật rất đáng thương, nhưng còn chưa đến nỗi lâm vào tử địa. Ðối với loài vật chẳng cứu chuộc mạng, đành lòng đứng nhìn chúng bị lên chảo, lên thớt để thỏa mãn cái miệng, cái bụng ư?

Người ấy lại nói: “Loài vật vô tận, thả được bao nhiêu?”

Ðáp: - Ông phải biết là một việc phóng sanh thật ra là để mọi người phát khởi tâm lành tối thắng giữ gìn sanh mạng loài vật. Cốt là ở ý niệm thôi không giết hại nữa, trong tâm thương xót chẳng nỡ ăn nuốt. Nếu đã chẳng ăn nuốt thì sẽ thôi không bắt bớ; mặc cho hết thảy loài vật trên cạn, dưới nước tự tại bay chạy, bơi lội trong chỗ sống của chúng. Thành thử, chẳng phóng sanh mà phóng sanh khắp cả. Há chẳng phải là cả thiên hạ trở thành một cảnh hay không? Giả sử, chẳng thể khiến cho ai nấy cũng đều được như vậy thì nếu dẫu chỉ một người chẳng đành ăn thịt là vô lượng sanh mạng trên cạn, dưới nước đã khỏi bị giết chóc. Huống hồ là trên đời chẳng phải là chỉ có mỗi một người chẳng ăn thịt đó ư!

Giới sát lại còn là dứt sạch cái nhân góa bụa, cô độc, bần cùng, hoạn nạn của hết thảy người trong hiện tại lẫn vị lai, khiến họ được hưởng cái duyên trường thọ vô bịnh, phú quí, an vui, cha con đoàn viên, vợ chồng giai lão. Ðấy chính là đã sắp sẵn cái hạnh cứu giúp trọn khắp khiến cho vị lai đời đời, kiếp kiếp, ai nấy trọn chẳng bị các khổ: góa bụa, cô độc, hưởng cái vui sống lâu, giàu có... há chẳng phải là toàn nước được hưởng phúc hay chăng? Có nên bỏ lỡ không? Ông hãy nghĩ kỹ! Việc kiêng giết hại, phóng sanh xét đến rốt ráo thì là vì loài người, chứ nào phải chỉ nhằm lợi lạc cho loài vật mà ông cho là điên đảo nơi sự hoãn, gấp, nặng, nhẹ vậy!

Ðức lớn của trời đất gọi là Sanh. Ðạo lớn của Như Lai là Từ. Người, vật tuy khác nhưng tâm tánh giống nhau. Ðối với cả phàm trần ba thừa, sáu nẻo, Như Lai đều xem như con một. Vì cớ sao? Vì tất cả đều sẵn đủ Phật tánh, đều có thể thành Phật. Hãy khoan bàn tới ba cõi; lục phàm là thiên, nhân, a tu la, súc sanh, ngạ quỷ và địa ngục, tuy là cao thấp khác biệt rất xa, khổ vui sai khác, nhưng đều là [những kẻ] chưa đoạn được hoặc nghiệp, chưa thoát khỏi sanh tử. Phước trời nếu hết liền bị đọa xuống; tội trong địa ngục nếu tiêu bèn lại sanh lên, như thể bánh xe lăn lần lượt lên cao, xuống thấp. Nay ta may được thân người, lẽ ra phải nên sắp bày phương cách chu đáo nhằm giữ gìn tiếc thương mạng loài vật thì mới hợp với đức hiếu sanh của trời đất, thể hiện lòng nhân trắc ẩn trong tâm ta. Ðó là vì các loài vật với ta cùng sanh trong khoảng trời đất, cùng hưởng sự dưỡng dục của trời đất, cùng biết tham sống, cùng biết sợ chết. Ðối với xương khô, kẻ nhân còn vơ lấy đem chôn; đối với cỏ cây còn để mọc dài chẳng chặt; huống hồ là chỉ vì để ngon miệng, sướng bụng mà đành bắt các loài vật trên cạn, dưới nước phải chịu cái khổ dao cắt, nấu, chiên hay sao! Nên biết là từ vô thỉ đến nay, các loài vật ấy cũng đã từng ở vào địa vị tôn quý, oai quyền hiển hách nhưng chẳng biết mượn oai quyền để vun bồi cái đức; ngược lại, họ cậy oai quyền tạo nghiệp khiến cho ác nghiệp chất chồng, đọa trong dị loại: miệng chẳng nói được, tâm không trí lự, thân không kỹ thuật. Mắc phải nạn ấy thì dẫu thịt mềm bị [kẻ khác] cưỡng ăn, nhưng oán hận tích kết lại khiến cho đời đời kiếp kiếp luôn nghĩ đến chuyện báo oán. Người nào nếu đã chẳng nghĩ đến nỗi khổ bị giết hại của các loài vật thì há chẳng sợ cái oán nghiệp thâm kết, thường bị chúng giết hại lại hay sao? Lại cũng chẳng sợ do vì mình tàn hại loài vật, trời sẽ đoạt phước thọ của mình ư?
Nếu ai mong muốn quyến thuộc quây quần, thọ mạng dài lâu, thân tâm an lạc, các duyên như ý thì phải nên phát lòng đại bi, hành hạnh phóng sanh khiến cho trời đất, quỷ thần đều xót thương tấm lòng thành thật thương yêu loài vật của ta thì những điều ta mong muốn mới sẽ đạt được. Nếu cứ cậy mình có tiền tài, mình sẵn trí lực rồi bày đủ các cách bắt lấy loài vật cốt sao thỏa thuê miệng, dạ của mình, chẳng đếm xỉa nỗi thống khổ của chúng; há có còn đáng coi là người cùng đứng chung với trời, đất thành tam tài chăng? Ta cùng bọn chúng cùng ở trong sanh tử, từ vô thỉ đến nay chắc chắn chúng đã từng là cha mẹ, anh em, thê thiếp, con cái của ta; ta cũng đều từng là cha mẹ, anh em, thê thiếp, con cái của chúng. Bọn chúng cũng từng ở trong loài người hoặc trong dị loại, đều bị ta giết; ta cũng đều hoặc ở trong loài người hoặc trong dị loại, đều bị chúng giết; làm kẻ thân, người oán, sanh ra nhau hay giết nhau. Lặng im mà nghĩ, thẹn chẳng muốn sanh. Chóng gấp cải đổi còn e quá trễ; huống là cam đành giữ thói cũ, chấp mãi ý tưởng mê muội: trời sanh ra các loài khác là để cho con người ăn uống!


53. Lược giải về Tam Chuyển Tứ Ðế Pháp Luân

Trước tiên, nói về tướng chuyển, tức là: đây là Khổ, tánh bức bách; đây là Tập, tánh chiêu cảm; đây là Diệt, tánh có thể chứng; đây là Ðạo, tánh có thể tu.
Hai là khuyên tu chuyển, tức là: đây là Khổ, ông nên biết; đây là Tập, ông nên đoạn; đây là Diệt, ông nên chứng; đây là Ðạo, ông nên tu.

Ba là chứng chuyển, tức là: đây là Khổ, ta đã biết; đây là Tập, ta đã đoạn; đây là Diệt, ta đã chứng; đây là Ðạo, ta đã tu.

Khuyên người niệm Phật cầu sanh Tây phương chỉ cốt ở chỗ giản minh, trực tiếp, chẳng cần phải dẫn rộng pháp môn Tứ Ðế, nhưng vì muốn chỉ bày rõ về 2 phương diện tự lực và Phật lực, hai thứ rốt ráo sanh tử khó và dễ nên đặc biệt lấy Tứ Ðế làm luận cứ so sánh. Khi đã hiểu được nghĩa này thì có còn đành chịu bỏ Phật lực để chuyên cậy vào tự lực hay chăng? Ở đây, chỉ lược giải ý nghĩa; trong phần so sánh sẽ giảng thêm khi giải thích ý nghĩa.

Tam Chuyển Tứ Ðế pháp luân đây là do lúc Phật mới thành Chánh Giác, nơi vườn Lộc Dã, đức Phật vì các ông Kiều Trần Như - bọn họ là những người theo Phật đi tu như: Át Bệ, Bạt Ðề, Thập Lực Ca Diếp, Câu Lợi - mà nói pháp môn này. Những người đó nghe xong đều đắc quả A La Hán. Khi ấy, Tăng bảo hiện hữu trong thế gian.

Tứ Ðế là bốn pháp Khổ, Tập, Diệt và Ðạo; bốn pháp thảy đều chơn thật chẳng dối, trọn chẳng có lầm lạc. Chuyển nghĩa là xoay vần truyền thọ. Luân là ví dụ. Ví như trong đời, bánh xe hay nghiến nát hoặc vận tải các vật. Phật dùng pháp này giảng cho chúng sanh; chúng sanh tu tập theo đó liền có thể phá trừ phiền não hoặc nghiệp; ấy là nghĩa Nghiến Nát. Khi hoặc nghiệp đã phá thì liền có thể tự chứng lý chơn thật bất sanh bất diệt Niết Bàn, đấy là nghĩa Chuyên Chở. Do những nghĩa ấy nên gọi là Pháp Luân.

a. Trước hết, giảng về Tướng Chuyển, nghĩa là chỉ bày tánh tướng của Tứ Ðế như thế nào để biết lợi hại, hầu quyết định lấy hay bỏ.

Trong câu “Ðây là Khổ, tướng bức bách”: chữ “đây” chính là chữ chỉ cho cái khổ quả đang chịu; nghĩa là: cái chánh báo sắc thân này cùng với y báo quốc độ. Nếu nói về phương diện sắc thân thì cứ hễ có sắc thân này ắt phải có sanh, lão, bịnh, tử, khổ vì thương yêu mà phải xa lìa, khổ vì oán ghét phải gặp gỡ, khổ vì cầu mà chẳng được, khổ vì năm ấm lừng lẫy, tức là tám điều khổ. Tám điều khổ này dù phú quí hay bần tiện ai nấy đều cùng có. Ngoài ra, do nghiệp báo nên mỗi người còn phải cảm lấy những cái khổ riêng biệt. Do các khổ ấy bức bách phiền loạn cả thân lẫn tâm nên cả một đời người chẳng được tự tại.

Trong câu ‘Ðây là Tập, tánh chiêu cảm’, chữ “đây” chỉ cho cả hai thứ: Kiến Hoặc và Tư Hoặc. Hai thứ hoặc này chính là căn bổn sanh tử, danh tướng rất nhiều, chẳng thể nói trọn. Nói vắn tắt, Kiến Hoặc và Tư Hoặc chính là tham sân si do thấy cảnh mà khởi lên cũng như tham sân si tự khởi lên tuy không thấy cảnh. Phiền não tuy nhiều nhưng chẳng ngoài ba thứ tham, sân, si. Tập có nghĩa là tụ tập. Do vì có hai thứ Hoặc ấy nên có thể tụ tập hết thảy phiền não, chiêu cảm hết thảy khổ báo. Do khởi các tâm thiện, ác nên liền tạo các nghiệp thiện, ác... Có nghiệp thời ắt phải chịu báo cho nên mãi luân hồi trong đường thiện, ác nơi tam đồ, lục đạo; muôn kiếp chẳng thoát ra được.

Trong câu “Ðây là Diệt, tánh chứng được”, chữ “đây” chỉ cho việc diệt cái Khổ và Tập vừa nói ở trên, đạt được lý thể Bất Sanh Bất Diệt. Do tu đạo Giới, Ðịnh, Huệ nên dứt được cái nhân sanh tử là tham, sân, si. Do đấy, chẳng còn phải chịu quả khổ luân hồi sanh tử nữa, chứng được Niết Bàn bất sanh, bất diệt. Vì thế, gọi là Diệt. Diệt là không. Ðã chẳng có sanh thì sẽ cũng chẳng có diệt; bất sanh bất diệt mà cưỡng gọi là Diệt. Ví như mây, sương mù che lấp hư không; một cơn gió mạnh nổi lên khiến mây mù bị tiêu trừ, hư không sẵn có nhân đấy sẽ hiển hiện. Lúc mây mù che ngăn, hư không vốn chẳng hề diệt. Lúc mây mù tan, hư không vốn chẳng hề sanh. Bổn thể của hư không là luôn thường hằng bất biến. Tướng sáng, tối, thông, tắc thật là cách biệt nghìn trùng. Hiểu rõ điều này rồi mà chẳng phát tâm tu đạo để chứng Diệt thì thật chẳng đúng vậy. Lý ấy ai cũng có đủ, nếu chịu tu đạo thì không có ai là chẳng đạt được; bởi thế mới nói là “tánh có thể chứng”.

Trong câu “Ðây là đạo, tánh có thể tu”, chữ “đây” chỉ Giới - Ðịnh - Huệ. Phật pháp tuy là vô lượng vô biên nhưng hoàn toàn nằm gọn trong ba thứ Giới, Ðịnh, Huệ. Ðạo có nghĩa là thông được; tức là: dựa vào Giới, Ðịnh, Huệ này mà tu thì ắt sẽ có thể đoạn được cái nhân sanh tử là tham, sân, si, chẳng thọ cái quả sanh tử luân hồi trong tam đồ, lục đạo, đích thân đạt được Niết Bàn bất sanh, bất diệt vốn sẵn có trong tự tâm. Nhưng tâm ta cũng vốn sẵn đủ đạo Giới, Ðịnh, Huệ này; chứ chẳng phải là chẳng tu thì ta tuyệt nhiên chẳng có; còn nếu tu thì Giới Ðịnh Huệ ấy cũng chẳng phải từ bên ngoài đến. Bởi vậy mới nói là “tánh có thể tu”

Bốn pháp này đều trước hết nêu lên cái quả, sau mới trình bày cái nhân. Khổ là quả của Tập; Tập là nhân của Khổ. Diệt là quả của Ðạo; Ðạo là nhân của Diệt. Nói như vậy là để cho biết Khổ mà đoạn Tập, hâm mộ Diệt nên tu Ðạo vậy.

b. Thứ hai, Khuyên Tu Chuyển là đã biết tánh tướng, lợi hại; nhưng nếu chẳng chơn thật tu trì thì chẳng thể đạt được lợi ích ấy, xa rời khỏi họa hại đó nên Phật khuyên rằng: “Ðây là Khổ ông nên biết; đây là Tập, ông nên đoạn; đây là Diệt, ông nên chứng; đây là Ðạo, ông nên tu”. Muốn rời khổ quả thì trước hết phải đoạn Tập nhân; muốn chứng Diệt lý thì phải tu đạo phẩm trước.

c. Ba là Tác Chứng Chuyển. Trước khi chư Phật xuất thế, không hề có giáo nghĩa này; nay đức Phật nói ra sợ có kẻ hoài nghi nên ngài nêu ra điều chính mình đã trải qua để làm chứng cứ, bèn nói là: ‘Ðây là Khổ, ta đã biết. Ðây làTập, ta đã dứt. Ðây là Diệt, ta đã chứng. Ðây là Ðạo, ta đã tu”. Muốn biết con đường dưới núi, cần phải hỏi người qua lại; Phật là người qua lại, lời ngài nhất định đáng nên tuân theo. Vì thế, năm người nghe [khi ấy] đều chứng quả A La Hán. Năm người này đều do vì túc căn đã chín, lại thêm được oai thần của Phật gia bị nên mới được như thế. Nếu căn cứ trên đa số tùy ý đắc chứng mà luận thì sự chứng đắc khó, dễ sai khác rất lớn. Bậc Sơ Quả đã đoạn kiến hoặc, còn phải bảy lần sanh lên trời, bảy lần trở lại nhân gian rồi mới chứng Tứ Quả. Nhị Quả một lần sanh thiên, một lần sanh trong nhân gian mới chứng Tứ Quả. Tam Quả sanh khắp trong năm cõi Bất Hoàn Thiên rồi chứng Tứ Quả, hoặc sanh trong hết thảy các cõi trời Tứ Không. Thời gian thọ sanh ấy chẳng thể tính đếm dễ dàng. Sơ Quả, Nhị Quả, Tam Quả tuy phải tốn thời gian lâu xa như thế mà vẫn chưa đoạn được kiến hoặc. Tuy khó khăn bội phần ngần ấy nhưng quả A La Hán vẫn còn thuộc về Tiểu Thừa, đạt đến địa vị Bồ Tát còn phải lâu xa hơn nữa. Nếu có thể hồi Tiểu hướng Ðại thì mới vào được Bồ Tát vị, tấn tu dần dần cho đến khi thành Phật. Ðây là xét về mặt nương vào Giới, Ðịnh, Huệ của tự lực để liễu thoát sanh tử, thật là khó khăn, thật khó như lên trời. Vì thế, Như Lai đặc biệt mở ra một pháp môn Tín, Nguyện, Niệm Phật Cầu Sanh Tịnh Ðộ để hàng Bồ Tát chứng Ðẳng Giác lẫn phàm phu gây tạo ác nghiệp cùng ngay trong hiện đời được vãng sanh Tây phương.
Xét theo giáo lý phổ thông mà luận, phàm phu đủ cả hoặc nghiệp, tuyệt chẳng có cơ hội dứt hết sanh tử; nhưng chỉ có pháp môn Tịnh Ðộ: nếu đủ lòng tin chơn thật, nguyện thiết tha, thành tâm trì Phật hiệu thì liền có thể nương nhờ Phật từ lực, mang nghiệp đi vãng sanh. Một phen được vãng sanh thì chẳng còn có hoặc nghiệp nữa vì Tây phương cảnh duyên thù thắng như lò luyện lớn, một nhúm tuyết chưa rớt đến bên trong đã bị tiêu mất, cũng như kiếp hỏa đốt sạch thế giới, tìm tro còn chẳng được. Cả ba thứ: Phật lực, Pháp lực, Chúng Sanh Tâm lực đều chẳng thể nghĩ bàn. Vì thế, chỉ có mỗi pháp môn này là có thể ban cho lợi ích đặc biệt. Phải nên biết rằng pháp môn Tịnh Ðộ chính là pháp môn thành thỉ thành chung vô thượng của mười phương tam thế hết thảy chư Phật: trên thành Phật đạo, dưới độ chúng sanh. Ðời lắm kẻ quen thói chẳng suy xét kỹ, cứ cho là đây chỉ là pháp môn đặt ra cho bọn ngu phu, ngu phụ, còn mình là bậc thượng sĩ tự tại nên chẳng chịu thuận tu tập theo, đành nhường cho kẻ ngu phu, ngu phụ nương nhờ vào Phật lực được vãng sanh Tây phương liễu sanh thoát tử, siêu phàm nhập thánh. Còn bậc trí tự lực thì trí lực chẳng thể đối phó nổi hoặc nghiệp; khi hoặc nghiệp chưa hết thì chẳng thể tránh khỏi thọ sanh trong tam đồ, lục đạo. Ðem so tam đồ, lục đạo với kẻ hạ hạ phẩm vãng sanh Tịnh Ðộ thì đã khác nhau một trời một vực, huống hồ là so với bậc thượng thượng phẩm! Kẻ ngu phụ, ngu phụ đáng bị xem thường, nhưng há có nên xem thường kẻ ngu phu, ngu phụ niệm Phật cầu sanh Tây phương hay chăng? Xem thường họ tức là xem thường pháp phổ độ trên là thánh, dưới là phàm của mười phương chư Phật! Tự mình lầm, lại làm người khác lầm lạc rất lớn, chẳng đáng sợ lắm thay, chẳng đáng hãi lắm thay!


54. Lược giải về Tứ Liệu Giản (tức Tịnh Ðộ Quyết Nghi luận)

Thuốc không quý tiện, thuốc trị lành bịnh là thuốc hay. Pháp không hơn, kém, pháp khế hợp căn cơ là diệu. Thuở xưa, căn tánh con người thù thắng, tri thức như rừng, hễ tu một pháp liền đều có thể chứng đạo. Người đời nay, căn tánh kém cỏi, tri thức hiếm hoi, nếu bỏ Tịnh Ðộ thì chẳng nhờ vào đâu để được giải thoát. Tôi tự thẹn nhiều đời, nhiều kiếp, ít gieo căn lành, phước mỏng, huệ cạn, chướng nặng, nghiệp sâu; lúc đang cầu học hỏi lại chẳng gặp thiện hữu, chưa được nghe đạo truyền tân (7) của thánh hiền, lậm cái độc của Hàn, Âu (8) phế Phật. Học vấn chưa thành, nghiệp lực đã hiện ra trước. Từ đấy, bệnh nặng cả mấy năm, chẳng làm gì được. Nghĩ kỹ thiên địa quỷ thần chiếu soi như thế, cổ kim thánh hiền đông nhiều đến thế, huống chi là Phật vốn tự chẳng có quyền lực để ép người thuận theo; ắt là nhờ vào vua thánh, tôi hiền hộ trì nên đạo Phật mới có thể lưu truyền khắp thiên hạ vậy. Nếu quả thật đúng như lời họ Hàn, họ Âu: Phật pháp trái nghịch thánh đạo, tổn hại Trung Quốc thì chẳng những riêng vua thánh, tôi hiền xưa nay chẳng dung thứ cho Phật pháp tồn tại nơi đời mà thiên, địa, quỷ thần cũng tru diệt chẳng còn sót từ lâu rồi; nào phải đợi Âu, Hàn dùng lời hư vọng để bác bỏ nữa!

Ðạo quân tử nói trong sách Trung Dung, kẻ ngu phu, ngu phụ còn có thể biết được, hành được; còn như cái đạo đạt đến mức cùng cực thì ngay cả thánh nhân cũng có điều chẳng hay biết, chẳng lãnh hội nổi. Ông Âu, ông Hàn tuy hiền, nhưng còn kém xa thánh nhân rất nhiều thì làm sao biết được những điều thánh nhân còn chẳng biết chẳng hay! Phật pháp nào có phải là pháp mà phàm tình, trí thế gian suy lường được nổi. Tôi bèn nhanh chóng sửa đổi tâm trước, xuất gia làm Tăng, tự lượng sức mình: nếu chẳng nương vào sức thệ nguyện của đức Như Lai thì quyết khó có thể ngay trong đời này thoát khỏi sanh tử. Từ ấy, chỉ niệm Phật, chỉ cầu Tịnh Ðộ. Từ nhiều năm qua, tôi đã lạm dự vào chốn giảng pháp, nhiều phen tham vấn các bậc Thiền Ðức, chẳng qua là muốn phát minh Ðệ Nhất Nghĩa Ðế Tịnh Ðộ để làm tư lương thượng phẩm vãng sanh mà thôi. Hận rằng sức lực yếu ớt nên hạnh khó dũng mãnh; nhưng tôi tín, nguyện kiên cố, chẳng phải chỉ các sư giảng Thiền trong đời không lay chuyển nổi tôi chút nào mà dẫu cho chư Phật hiện thân dạy tu pháp khác, tôi cũng chẳng chịu bỏ pháp này nhận lấy pháp khác, trái nghịch cái tâm ban đầu. Vì túc nghiệp gây chướng ngại nên tôi trọn chưa đạt được nhất tâm bất loạn để đích thân chứng được Niệm Phật Tam Muội, thẹn thùng vô kể.

Một ngày nọ có một Thượng Tọa, học Thiền tông đã lâu, kiêm thông giáo lý, mắt xem bốn biển rỗng không, thề chứng Nhất Thừa, noi gương Thiện Tài tham học khắp các tri thức, đến Loa Sơn gõ cửa thất tôi. Khi ấy, tôi vừa xem tập Di Ðà Yếu Giải thấy văn sâu lý thẳm, chẳng tiện cho kẻ sơ cơ, mông muội nên muốn thâu thập những giáo lý của tông Thiên Thai để viết lời giải thích, ngõ hầu giúp bậc sơ học dễ bề tiến tu, chứ chẳng dám bắt chước cổ đức hoằng xiển đạo mầu mà chỉ toan tạo thắng duyên cho hậu học. Mừng có vị Thượng Tọa ấy đến nên tôi liền tặng ông ta một cuốn Yếu Giải, rồi thuật ý muốn viết lời giải thích. Nhân đấy, Thượng Tọa bảo tôi:

- Một cuốn Yếu Giải tôi trước đã từng xem, thấy trong ấy viết rằng: “Tạng sâu Hoa Nghiêm, cốt tủy kín nhiệm của Pháp Hoa, tâm yếu của hết thảy chư Phật, kim chỉ nam cho vạn hạnh của Bồ Tát đều chẳng ra khỏi kinh này”. Như vậy là chẳng phải là đề cao mà là chèn ép Tông (Thiền), Giáo (các tông phái khác), quá khen Tịnh Ðộ, báng chánh pháp luân, khiến chúng sanh nghi lầm. Chẳng hiểu đại sư Ngẫu Ích đã có cái học thức thiên cổ hy hữu sao lại không trực chỉ nhân tâm, hoằng dương Chỉ Quán. Trái lại, ngài chấp vào thứ kiến giải ấy khiến kẻ ngu phu, ngu phụ dùng đó như bùa hộ thân, chỉ mong hàng Tăng, tục trong đời giữ một pháp buông bỏ vạn hạnh; lấy vũng nước, bỏ cả biển rộng, cùng bước vào nẻo mê, vĩnh viễn quay lưng với đường chánh, đoạn diệt giống Phật, tội ngập cả trời. Muốn báo ân Phật thì trước hết nên hủy diệt sạch sách này, sao ngài còn tính viết lời giải thích để giúp cho sách được lưu thông vậy! Tâm giận ngùn ngụt, như đối diện cừu thù.

Tôi đợi cho ông ta bình tĩnh lại, thong thả bảo rằng:

-Ông coi lời giải thích này của ngài Ngẫu Ích là tội lỗi quá nặng; ấy là chỉ biết ngọn, nhánh, chứ chẳng biết đến cội gốc, như con chó khờ chạy theo hòn đất, như con ngỗng chúa chẳng chọn sữa. Phải biết là cái lỗi ấy chẳng do cuốn Yếu Giải này của ngài Ngẫu Ích mà thật là do Phật Thích Ca, Phật Di Ðà, mười phương chư Phật và ba kinh Tịnh Ðộ, kinh Hoa Nghiêm, Pháp Hoa, các kinh Ðại Thừa và các vị đại Bồ Tát, tổ sư: Văn Thù, Phổ Hiền, Mã Minh, Long Thọ, Trí Giả, Thiện Ðạo, Thanh Lương, Vĩnh Minh v.v... Nếu ông có thể làm đại pháp vương trừng trị tội ấy thì lời ông sẽ được cả thế gian phụng hành; bằng không thì là kẻ dân ngu nơi rừng núi vọng xưng hoàng đế, tự chế pháp luật, bội phản luật vua: đã chẳng ra gì còn lại bị diệt môn tru tộc vậy. Ông nói như thế là báng Phật, báng Pháp, báng Tăng, ngay đời này sẽ đọa A Tỳ địa ngục thọ khổ bao kiếp, trọn không có lúc thoát ra. Cậy chút phước trong quá khứ, tạo khổ báo muôn đời. Hạng người được tam thế chư Phật gọi là đáng thương xót chính là ông vậy.

Ông ta giật mình, nói: - Thầy bảo tội nơi đức Thích Ca, Di Ðà v.v... Sao mà lại trái nghịch lý thường đến như thế? Xin thầy giải thích cho. Nếu lý ấy thật sự thù thắng, tôi đâu dám chẳng tuân theo?

Tôi bảo: - Như Lai vì một đại sự nhân duyên nên xuất hiện trong đời. Ðại sự nhân duyên vừa nói đó chính là muốn cho chúng sanh khai, thị, ngộ, nhập tri kiến của Phật, thẳng đến khi thành Phật mà thôi; đâu còn có gì khác nữa đâu! Khốn nỗi chúng sanh căn tánh có lớn nhỏ, mê có cạn sâu, chẳng thể tỏ bày trực tiếp bổn hoài của Phật. Do đó, đức Phật mới thuận theo căn cơ đặt bày giáo pháp, đối bịnh phát thuốc, vì lẽ thật mà bày ra phương tiện quyền biến, khai quyền hiển thật; [chỉ một pháp] Nhất Thừa mà bèn nói ra các thuyết. Giả như có kẻ thiện căn thành thục thì sẽ làm cho họ nhanh chóng lên được bờ kia; còn đối với kẻ ác nghiệp sâu dày, sẽ khiến họ dần dần thoát khỏi trần lao, rủ lòng tiếp dẫn; khéo khuyến dụ dần dần. Dẫu có dùng các ví dụ như trời, đất, mẹ cha… cũng chẳng diễn tả nổi chút phần [từ ân của Phật].

Hơn nữa, do hết thảy pháp môn đều nhờ vào tự lực. Dẫu là kẻ túc căn thâm hậu triệt ngộ tự tâm, nhưng hai thứ: kiến hoặc, tư hoặc vẫn còn sót chút ít chưa hết nên vẫn y như cũ sanh tử trong luân hồi chưa ra được khỏi! Huống hồ là kẻ đã thọ thai ấm, đối cảnh liền sanh chấp trước, từ giác đến giác thì ít nhưng từ mê vào mê lại nhiều. Bậc thượng căn còn như vậy, đối với kẻ trung căn, hạ căn còn biết nói sao nữa! Ðoạn kiến hoặc giống như cắt dứt dòng sông rộng bốn mươi dặm, huống hồ là tư hoặc! Liễu sanh thoát tử há có dễ đâu! Do vậy, [các pháp môn khác] chẳng thể độ trọn ba căn, tuyên dương bổn hoài của Phật; chỉ có một pháp Niệm Phật Cầu Sanh Tịnh Ðộ, chuyên cậy vào hoằng thệ nguyện lực của Phật Di Ðà là chẳng cần biết đến thiện căn thành thục hay chẳng thành thục, ác nghiệp là nặng hay nhẹ; cứ hễ sanh lòng tin, phát nguyện, trì danh hiệu Phật thì lúc lâm chung sẽ quyết định được Phật Di Ðà thùy từ tiếp dẫn, vãng sanh Tịnh Ðộ. Người thiện căn thuần thục sẽ nhanh chóng viên thành Phật quả; kẻ ác nghiệp nặng nề cũng được dự vào dòng thánh. Ðấy chính là đạo cốt yếu để độ sanh của tam thế chư Phật, là pháp mầu nhiệm để thượng thánh lẫn hạ phàm cùng tu. Do vậy, các kinh Ðại Thừa đều tuyên bày pháp quan yếu này; lịch đại tổ sư không vị nào chẳng tuân hành. Ông tự phụ Thiền, Giáo, bảo xằng rằng hoằng dương Tịnh Ðộ là báng chánh pháp luân, là đoạn diệt giống Phật, đủ chứng tỏ ông đã bị ma dựa vào thân, táng tâm bịnh cuồng, nhận mê là giác, chỉ chánh bảo tà, là chủng tử địa ngục vậy!

Trong kiếp xưa, đức Thích Ca, đức Di Ðà từng phát đại thệ nguyện độ thoát chúng sanh. Một vị thì hiện nơi uế độ, dùng cái uế, dùng điều khổ để chiết phục và thúc đẩy chúng sanh tiến tu; một vị an cư Tịnh Ðộ, lấy tịnh, lấy lạc để nhiếp thọ hòng đào luyện chúng sanh. Ông chỉ biết là ngu phu, ngu phụ vẫn có thể niệm Phật nên đến nỗi miệt thị Tịnh Ðộ, sao chẳng xét suy: trong phẩm Nhập Pháp Giới của kinh Hoa Nghiêm, sau khi ngài Thiện Tài đã chứng ngộ gần bằng chư Phật, Phổ Hiền Bồ Tát bèn dạy ngài phát mười đại nguyện vương, hồi hướng vãng sanh Tây phương Cực Lạc thế giới, ngõ hầu viên thành Phật quả. Nhân đấy, khuyên dạy khắp Hoa Tạng hải chúng hay sao? Trong toàn thể Hoa Tạng hải chúng, chẳng có một ai là phàm phu, Nhị Thừa, mà đều là bậc Pháp Thân Ðại Sĩ ở địa vị bốn mươi mốt cùng phá vô minh, cùng chứng pháp tánh. Các ngài đều có thể nương vào bổn nguyện luân mà hiện thân làm Phật trong thế giới không có Phật. Hơn nữa, trong biển Hoa Tạng có vô lượng Tịnh Ðộ, nhưng các ngài đều hồi hướng vãng sanh Tây phương Cực Lạc thế giới thì phải biết là Vãng Sanh Cực Lạc chính là huyền môn để thoát khổ, là đường tắt để thành Phật. Vì vậy, tự cổ chí kim, trong tất cả tùng lâm dù Thiền hay Giáo, không nơi nào là chẳng sớm chiều trì danh hiệu Phật cầu sanh Tây phương. Ông đã tham bái khắp các tùng lâm, ắt hẳn hằng ngày cũng tu tập, thế sao lại sanh hủy báng đến thế!

Sách Nho có nói: “Tu tập mà chẳng xem xét, dùng hằng ngày mà không biết”, há không phải là nói đến hạng người như ông hay sao? Hơn nữa, Hoa Nghiêm là vua của các kinh, vua trong Tam Tạng; chẳng tin Hoa Nghiêm thì là nhất xiển đề. Dẫu cho chẳng đọa vào A Tỳ ngay khi còn sống thì khi báo hết sẽ quyết định rớt vào Vô Gián. Tôi muốn thoát khổ nên cầu sanh Tịnh Ðộ, ông muốn được khổ nên hủy báng Hoa Nghiêm. Ông cứ giữ cái chí của ông, tôi hành cái đạo của tôi. Tướng quân chẳng xuống ngựa, ai nấy tự ruổi theo đường mình. Ðạo đã khác thì chẳng thể bàn luận được! Ông đi đi, tôi chẳng muốn trò chuyện với ông nữa!

Ông ta đáp: - Ðạo quý ở chỗ hoằng thông, hễ nghi thì cần phải đoạn nghi., sao thầy lại cự tuyệt đến thế? Tôi thường nghe Tỳ Lô Giá Na Như Lai ở khắp hết thảy chỗ, nơi đức Phật ở gọi là Thường Tịch Quang; chỉ cần chứng được pháp thân thì đương xứ chính là Tịch Quang Tịnh Ðộ. Sao lại phải dùng cái tâm sanh diệt bỏ Ðông lấy Tây mới coi là được vậy?

Tôi đáp: - Ông nói sao dễ dàng quá! Tịch Quang Tịnh Ðộ tuy chính là đương xứ; nhưng nếu chẳng phải là đoạn trí đã đạt đến rốt ráo, đã viên chứng pháp thân Tỳ Lô thì chẳng thể đích thân thọ dụng triệt để nổi! Các địa vị như: Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Ðẳng Giác, cả bốn mươi mốt địa vị trong Viên Giáo vẫn là phần chứng. Nếu ông đã chứng được Tỳ Lô pháp thân thì nói đương xứ chính là Tịch Quang cũng chẳng hại gì; còn nếu chưa được như thế thì dẫu có nói đến thức ăn cùng tính đếm của cải vẫn chẳng thể tránh khỏi bị chết vì đói lạnh được!
Ông ta hỏi: - Duy tâm Tịnh Ðộ, tự tánh Di Ðà là điều trong Tông môn thường nói chẳng lẽ là sai lầm hay sao?

Tôi nói: - Thuyết đó của nhà Thiền chuyên chỉ về lý tánh chứ chẳng bàn đến sự tu. Vì sao vậy? Nhà Thiền muốn cho người ta trước hết biết đến cái lý phàm, thánh, chúng sanh và Phật tu chứng, chẳng dính mắc nhân quả. Sau đấy mới y theo lý đó mà phát khởi tu nhân hòng chứng quả, siêu phàm nhập thánh. Ðấy chính là mặt sự: chúng sanh chứng thành Phật đạo. Sao ông lẫn lộn sự và lý, tri kiến điên đảo đến thế! Ông lại bảo bỏ Ðông lấy Tây là sanh diệt, nhưng chẳng biết chấp Ðông bỏ Tây lại là đoạn diệt. Phàm còn chưa chứng Diệu Giác thì có ai thoát khỏi thủ, xả? Ba a tăng kỳ kiếp chọn lựa hạnh nghiệp, trăm kiếp tu nhân, thượng cầu, hạ hóa, đoạn hoặc chứng chơn, có việc gì chẳng phải là thủ xả đâu? Phải nên biết là do đức Như Lai muốn cho hết thảy chúng sanh mau chứng đắc pháp thân và Tịch Quang, cho nên Phật mới đặc biệt khuyên trì danh hiệu Phật, cầu sanh Tây phương vậy!

Hỏi: - Sách Hoa Nghiêm Hợp Luận của Táo Bá Lý Trưởng Giả nhận định Tây phương Tịnh Ðộ chỉ [dành cho] hàng phàm phu còn có một phần chấp tướng, chưa tin nổi thật lý của Pháp Không. Nếu chuyên ức niệm cõi ấy thì tâm sẽ được tịnh một phần, sẽ được sanh Tịnh Ðộ. Pháp đó là Quyền pháp chứ chẳng phải Thật pháp; vì sao Hoa Tạng hải chúng lại cùng nguyện vãng sanh? Ngài Táo Bá chứng thánh quả ngay trong hiện đời, thần thông trí huệ chẳng thể nghĩ bàn; nhất quyết ngài phải là Bồ Tát trong hội Hoa Nghiêm thị hiện thì lời ngài nói nhất định chẳng sai lầm quyết chẳng sai lầm!

Ðáp: - Tuy ngài Táo Bá là Bồ Tát thị hiện, nhưng khi ấy kinh Hoa Nghiêm chưa được truyền đến [Trung Hoa] trọn vẹn, ngài chẳng dự đoán được nên mới lập thuyết như vậy. Xét ra, ngài Táo Bá tạo luận vào năm Khai Nguyên đời vua Ðường Huyền Tông. Sau khi viết xong luận, ngài liền nhập diệt; phải hơn năm mươi năm sau, mãi đến năm Trinh Nguyên thứ mười một đời vua Ðức Tông, vua nước Ô Trà ở Thiên Trúc mới dâng bộ Hoa Nguyên Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm gồm bốn mươi cuốn bằng Phạn văn. Ðến năm Trinh Nguyên thứ mười bốn, kinh mới dịch xong để lưu thông. Ba mươi chín quyển trước tương ứng với phẩm Nhập Pháp Giới [của bản Hoa Nghiêm] tám mươi cuốn, nhưng văn nghĩa [trong bản Hoa Nghiêm bốn mươi quyển] có phần tường tận hơn. Trong cuốn thứ tám mươi, ngài Thiện Tài nương vào sức oai thần lực ngài Phổ Hiền, sở chứng đã ngang với đức Phổ Hiền nên ngài Phổ Hiền bèn đọc cho nghe bài kệ khen ngợi công đức thắng diệu của Như Lai. Tuy kinh văn đến đây đã hết, nhưng chưa có phần kết nên pháp hội vẫn chưa kết thúc. Bởi vậy, mới có phẩm Hạnh Nguyện. Trong cuốn thứ bốn mươi, ngài Phổ Hiền dùng mười đại nguyện vương để khuyến tấn Thiện Tài và Hoa Tạng hải chúng khiến cho họ hồi hướng vãng sanh Tây phương Cực Lạc thế giới; nói xong, Như Lai khen ngợi, đại chúng phụng hành. [Ðến đây], kinh văn mới hoàn bị. Vì lẽ đó, cổ đức mới đem quyển này đặt nối theo sau tám mươi quyển kia để kẻ hậu học đều được thọ trì toàn bộ bản kinh vậy.

Cổ đức cho rằng một pháp Niệm Phật Cầu Sanh Tịnh Ðộ chỉ Phật với Phật mới biết trọn vẹn, bậc Ðăng Ðịa Bồ Tát còn chẳng biết nổi ít phần, chính là ý này. Pháp Tịnh Ðộ gồm tóm trọn hết thảy bậc thượng căn lợi khí chẳng còn sót vậy. Kinh Ðại Tập dạy: ‘Ðời mạt pháp ức ức kẻ tu hành, hiếm một ai đắc đạo. Chỉ nương theo pháp Niệm Phật thì mới thoát khỏi sanh tử’; như vậy, pháp Tịnh Ðộ cũng thâu nhiếp hết thảy thiên nhân, lục đạo cụ phược phàm phu chẳng còn sót gì! Ông tin ngài Táo Bá mà chẳng tin phẩm Hạnh Nguyện và kinh Ðại Tập, tức là tuân theo cáo thị oai quyền một thuở của quan huyện, trái nghịch sắc chỉ của hoàng đế muôn đời chẳng đổi. Sao mà chẳng biết tôn, ty, khinh, trọng đến như thế ấy!
Hỏi: - Nếu đã là hải chúng thị hiện, sao lại phải đợi có kinh mới biết?

Ðáp: - Hoằng dương Phật pháp thật chẳng phải là việc dễ! Cần phải có chứng cứ thì mới gây được lòng tin. Một bộ kinh Hoa Nghiêm siêu việt các kinh, chẳng thể không có dẫn chứng mà tự lập thuyết được!

Hỏi: - Lúc kinh Niết Bàn chưa truyền đến Trung Hoa, sao ngài Ðạo Sanh đã đề xướng trước là Nhất Xiển Ðề cũng có Phật tánh. Há có nên bảo là ngài Táo Bá chẳng bằng ngài Ðạo Sanh ư?

Ðáp: - Xiển Ðề nguyên là chúng sanh mà hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh thì sao riêng Xiển Ðề lại chẳng có? Bậc có trí thức đều có thể dự đoán được điều này; còn chuyện vãng sanh sẽ viên mãn Phật quả thì các kinh tuyệt chưa tuyên nói, ai dám tự ý xướng xuất nên giáo nghĩa đó? Ðiều thứ hai là sự và lý tuyệt đối chẳng mâu thuẫn nhau nên chẳng thể dẫn trường hợp này làm chứng. Còn về sở chứng của hai vị thì chẳng phải điều bọn phàm phu thấp sát đất ta biết được nổi, dám đâu hý luận! Phải biết là Bồ Tát hoằng pháp hoặc thuận hoặc nghịch, dùng các thứ phương tiện chẳng thể nghĩ bàn. Biết đâu ngài Táo Bá thị hiện không biết cốt là để đôn đốc sự tin tưởng nơi người đời sau.

Hỏi: - Các sư Thiền tông đa số chê bỏ Tịnh Ðộ, đó là vì lẽ gì?

Ðáp: - Các sư Thiền tông chỉ truyền Phật tâm nên tất cả ngôn thuyết đều quy hướng về đấy. Ông đã tham Thiền nhiều năm mà còn chẳng biết lẽ này thì cái hiểu biết của ông đều là ác tri kiến phá hoại Thiền tông vậy.

Hỏi: - Tôi còn đang là phàm phu sát đất, dám đâu lung lăng. Ðấy thật là lời lẽ của chư Tổ, quyết có thể lấy làm bằng chứng. Lục Tổ nói: “Người Ðông phương tạo tội niệm Phật cầu sanh Tây phương. Người Tây phương tạo tội niệm Phật cầu sanh cõi nào?” Ngài Triệu Châu nói: “Lão tăng niệm Phật một tiếng, súc miệng ba ngày”. Phần nhiều các sư Thiền tông có những câu nói thế ấy thì thầy lại bảo sao đây?

Ðáp: - Lục Tổ trực chỉ hướng thượng để cho người ta biết giữ lấy tự tâm, còn ông lại chẻ văn giải nghĩa, biện luận pháp môn tu trì; đấy là coi cái yên của người cưỡi lừa chính là cái cằm của người cưỡi, lầm lẫn quá thể! Ông phải biết là người ở Tây phương đã hết sạch kiến hoặc và tư hoặc, tiến lên phá được trần sa hoặc và vô minh hoặc. Họ chỉ có tấn tu, tuyệt không có việc tạo tội. Tổ nói “kẻ ấy cầu sanh cõi nào?” là nếu trong lúc ấy mà chưa đoạn được kiến hoặc, tư hoặc thì nương nhờ Phật từ lực, kẻ đới nghiệp vãng sanh sẽ được sanh vào cõi Phàm Thánh Ðồng Cư Tịnh Ðộ. Một phen đã sanh trong cõi kia rồi thì hai hoặc: kiến và tư sẽ triệt để tiêu diệt, giống như quăng miếng tuyết vào lò lửa lớn, tuyết chưa rơi đến nơi đã biến mất. Thân cận người đức hạnh thì ý niệm thô lậu sẽ tiêu hết. Nếu như kiến hoặc, tư hoặc đã hết sạch thì sẽ sanh vào Phương Tiện Hữu Dư Tịnh Ðộ; phá được một phần vô minh thì sanh vào Thật Báo Vô Chướng Ngại Tịnh Ðộ. Khi vô minh hết sạch, phước huệ viên mãn thì sẽ sanh Thường Tịch Quang Tịnh Ðộ. Tại cõi này hiện chứng như thế thì tại cõi kia tấn tu cũng sẽ như thế. Sao ông quá lo họ không có chốn để sanh về để rồi tự chướng mình, chướng người, chẳng chịu cầu sanh? Nghe nói [người khác] ăn bị mắc nghẹn nên bèn bỏ cả ăn đến nỗi chết mất thì đúng là kẻ si trong thiên hạ, ông đừng có giống như vậy!
Ông chỉ biết một câu của ngài Triệu Châu: “Một chữ Phật, ta chẳng thích nghe” mà chẳng dẫn luôn câu kế tiếp. Ông tăng hỏi: “Hòa thượng có vì người không?” Triệu Châu nói: “Phật, Phật!” Ông chỉ muốn căn cứ vào câu ‘Niệm Phật một tiếng, súc miệng ba ngày’ mà chẳng dựa theo câu: “Hòa thượng nhận của cúng dường của đại vương như thế, sẽ dùng gì để báo đáp?” Triệu Châu nói: “Niệm Phật”. Lại chẳng y theo câu: “Tăng hỏi: ‘Mười phương chư Phật, lại có thầy chăng?’ Triệu Châu nói: ‘Có’. Hỏi: ‘Thầy của chư Phật là gì?’ Triệu Châu đáp: ‘A Di Ðà Phật, A Di Ðà Phật’. Ông bảo phần nhiều các sư Thiền tông nói như thế, nhưng chẳng biết lời đáp tương ứng căn cơ được gọi là cơ phong, gọi là chuyển ngữ. Hỏi ở nơi đáp, đáp ở nơi hỏi. Ông chẳng biết phản chiếu hồi quang, tham cứu nơi chính mình, chỉ một bề nhai bã hèm, chạy theo đất cục, bao giờ mới thấy tánh được!
Tôi xuất gia hơn ba mươi năm, luôn nghe chư Tăng nhắc một câu “Niệm Phật súc miệng ba ngày’, còn câu “lấy Phật, Phật để độ người”, “dùng niệm Phật báo ân”, “A Di Ðà Phật là thầy chư Phật” tuyệt chưa từng nghe có ai nhắc đến một lần. Ôi! Những câu trên đều cùng từ một miệng thốt ra, nếu đã cho câu trước là thật đáng tin thì câu sau cũng phải là thật đáng tin, cớ sao chỉ chấp nhận lời tổn, còn lời ích lại bỏ đi! Một thuận, một chống, tự mâu thuẫn nhau. Phàm lời nói của ngài Triệu Châu đều quy về bổn phận; câu ‘Phật chẳng thích nghe’ cùng câu ‘Niệm Phật báo ân’ đều là chuyển ngữ. Nếu có thể ngay trong những câu đó mà biết được tự tâm thì mới biết rằng đạo của ngài Triệu Châu vượt khỏi thường tình, ý nghĩa vượt ngoài ngôn ngữ, thì sẽ siêng năng niệm Phật suốt cả ngày còn thấy là chưa đủ vậy! Nếu như đã không được đích thân gặp ngài Triệu Châu thì sao chẳng lấy việc Niệm Phật làm sự tu trì, há có nên chấp lấy câu bác Phật làm căn cứ! Hễ niệm Phật thì ngay trong đời này sẽ thoát khỏi luân hồi, trong tương lai quyết định thành Phật. Còn nếu nương theo lời bác Phật thì là báng Phật, báng Pháp, báng Tăng; hiện đời tội nghiệp chất như núi, phước huệ băng tiêu, khi mạng chung sẽ vĩnh viễn đọa trong A Tỳ chịu khổ nhiều kiếp. Lẽ lợi hại, được mất như thế ấy thật là một trời, một vực.

Người đời nay toàn là hạng phước mỏng, huệ cạn, nghiệp nặng, chướng sâu; đối với điều được lợi ích thì khủng khỉnh nghe; đối với điều khiến mình bị tổn hại lại toàn thân rạp lạy. Lời chư Tổ đáp theo căn cơ thảy đều như thế, chẳng phiền phải giải thích cặn kẽ. Ông bảo là lời chơn thành của Tổ quyết có thể dùng làm bằng chứng thì sao chẳng tuân theo lời ngài Bách Trượng: “Tu hành thì niệm Phật là ổn đáng!” Sao ông cũng lại chẳng tuân những quy củ ngài Bách Trượng đã lập: cầu thọ cho vị tăng mắc bệnh, tống tiễn, thiêu hóa vị tăng đã mất, [những quy củ ấy] chẳng phải đều là hồi hướng vãng sanh Tịnh Ðộ đó ư? Có nên bảo là: Ngài Bách Trượng chỉ muốn cho kẻ chết được vãng sanh, chứ chẳng muốn kẻ sống cầu sanh hay sao! Sao ông chẳng thuận theo tổ thứ mười bốn ở trời Tây là ngài Long Thọ Bồ Tát: Như Lai huyền ký Bồ Tát sẽ vãng sanh, khôi phục kinh Hoa Nghiêm từ long cung. Ngài tạo nhiều bộ luận để riêng khen ngợi Tây phương như luận Tỳ Bà Sa khen ngợi Tịnh Ðộ là đạo dễ tu chóng đến đó ư! Sao ông lại chẳng tuân theo tổ thứ mười hai là Mã Minh Bồ Tát: Trong phần cuối của luận Khởi Tín, ngài có dạy phương tiện tối thắng khiến người niệm Phật cầu sanh Tây phương thường hầu Di Ðà, trọn chẳng thối chuyển? Sao ông lại chẳng làm theo Nhị Tổ A Nan, Sơ Tổ Ca Diếp kết tập Tam Tạng và các kinh Tịnh Ðộ? Nếu Tịnh Ðộ chẳng đáng là pháp, là có hại cho đời thì các ngài há chẳng phân biệt tốt xấu vẫn giữ lại khiến cho hậu thế tạo tội hay sao?

Thêm nữa, các kinh Ðại Thừa đều khen ngợi Tịnh Ðộ, chỉ có kinh Tiểu Thừa là không có lấy một chữ nhắc đến. Há nên bảo các kinh Ðại Thừa chẳng đáng là pháp sao? Hơn nữa, lúc đức Phật nói kinh Di Ðà, sáu phương hằng sa số chư Phật đều hiện tướng lưỡi rộng dài khuyên tin kinh này; ông có nên nói là sáu phương chư Phật cũng khiến người mắc tội hay sao? Nếu như ông bảo chẳng thể không tin các vị Lục Tổ, Triệu Châu... thì cũng chẳng thể chẳng tin các ngài Long Thọ, Mã Minh, A Nan, Ca Diếp, Thích Ca, Di Ðà, sáu phương chư Phật, các kinh Ðại Thừa! Nếu bảo chư Phật, chư Tổ, các kinh đều chẳng đáng tin thì sao lại tin lời Lục Tổ, Triệu Châu...?

Thấy gần mà chẳng thấy xa, biết nhỏ chẳng hay lớn, giống như kẻ nhà quê chỉ nể thế lực ông huyện, chẳng biết oai đức hoàng đế; trẻ nhỏ thấy tiền đồng bèn chộp lấy, gặp ma ni bảo châu chẳng thèm đoái hoài. Ông lại có biết bài Tứ Liệu Giản của ngài Vĩnh Minh chỉ bày lẽ có không, lợi hại, được mất của Thiền và Tịnh hay chăng? Ngài Vĩnh Minh là hóa thân của Phật Di Ðà, há lẽ nào ngài đành để người khác mắc tội báng chánh pháp luân, đành khiến chúng sanh nghi lầm, đoạn diệt Phật chủng hay sao?

Ông ta đáp: - Bài Liệu Giản của ngài Vĩnh Minh quá chi ly, chẳng đáng để làm khuôn phép, vì sao vậy? Ông ấy nói: Có Thiền, có Tịnh Ðộ, ví như cọp mọc sừng, hiện đời làm thầy người, đời sau làm Phật, Tổ. Nếu đúng như lời ông ta nói thì phần đông các Thiền giả hiện tại đều khán câu Người Niệm Phật Là Ai? Lại có vị trụ trong Niệm Phật Ðường niệm Phật bao năm, họ có đều hiện đời là thầy của người ta, kiếp sau liền thành Phật, Tổ đâu? Lại nói: “Không Thiền có Tịnh Ðộ, muôn người tu muôn người đỗ, nếu gặp Phật Di Ðà, lo gì chẳng khai ngộ?” Nay kẻ ngu phu, ngu phụ chuyên niệm danh hiệu Phật đâu đâu cũng có; chưa thấy mấy kẻ khi lâm chung hiện các tướng lành, được Phật tiếp dẫn vãng sanh Tây phương. Bởi vậy, tôi biết là Liệu Giản của ngài Vĩnh Minh là pháp chẳng đầy đủ!
Tôi nói: - Sao ông hấp tấp nuốt trộng quả táo, chẳng nếm mùi vị của nó như thế. Liệu Giản của tổ Vĩnh Minh chính là cương tông của Ðại Tạng, là khuôn phép tu trì. Trước hết phải nhận thức đích xác thế nào là Thiền, thế nào là Tịnh? Thế nào là hữu, thế nào là vô? Rồi mới phân tích theo lời văn thì sẽ biết mỗi một chữ đều như trời tạo, đất dựng, không chữ nào chẳng xác đáng, không chữ nào có thể thay đổi được! Trong vòng mươi năm lại đây, tôi thấy lời lẽ các sư giảng Thiền đều giống hệt lời của ông, chẳng có chút gì khác. Kiến thức như thế thì đúng là Thiền cùng Tịnh Ðộ mỗi ngày một suy tàn.

Hỏi: - Sao gọi là Thiền, Tịnh cùng với hữu, vô, cúi xin dạy rõ cho!

Ðáp: - Thiền chính là Chơn Như Phật tánh vốn sẵn có của chúng ta. Trong nhà Thiền gọi đó là cái “bổn lai diện mục trước lúc cha mẹ chưa sanh ra”; nhưng nhà Thiền chẳng nói rõ ra, chính là để người khác tham cứu tự chứng ngộ lấy nên mới nói như vậy. Ðó chính là tâm thể thuần chơn, không năng, không sở, tức tịnh, tức chiếu vậy, linh tri ly niệm vậy (Linh tri ly niệm nghĩa là trọn chẳng có ý niệm nhưng luôn nhận thức rõ ràng cảnh vật hiện tiền).

Tịnh Ðộ là tín nguyện, trì danh, cầu sanh Tây phương, chứ chẳng phải chỉ nói đến Duy Tâm Tịnh Ðộ, Tự Tánh Di Ðà. “Có Thiền” là tận sức tham cứu, niệm tịch, tình vong, thấy thấu suốt cái bổn lai diện mục trước khi cha mẹ sanh ra, minh tâm kiến tánh. “Có Tịnh Ðộ” là chơn thật phát Bồ Ðề tâm, sanh tín, phát nguyện, trì danh hiệu Phật, cầu sanh Tây phương. Thiền và Tịnh Ðộ chỉ là ước theo giáo, ước theo lý. Còn “có Thiền” và “có Tịnh Ðộ” là ước theo căn cơ, ước về tu. Về giáo lý thời hằng nhiên như thế; Phật chẳng thể tăng, phàm chẳng thể giảm. Xét về căn cơ, tu hành thì phải nương vào giáo để khởi hạnh; hành cho đến khi chứng ngộ tột cùng lý, sao cho mình thiệt được, thiệt có.

Hai điều ấy (Thiền Tịnh và Có Thiền Có Tịnh) xét về văn từ tuy tương tự nhưng thật ra rất khác nhau, phải suy xét kỹ càng chớ có lẫn lộn. Nếu như tham Thiền nhưng chưa ngộ hoặc ngộ chưa triệt để thì đều chẳng được gọi là Có Thiền. Nếu như niệm Phật nhưng chỉ chấp duy tâm, không có tín, nguyện; hoặc có tín nguyện nhưng chẳng chơn thành, thiết tha, lơ lơ là là, làm cho lấy có; hoặc hạnh tuy tinh tấn nhưng tâm mến luyến trần cảnh, hoặc cầu đời sau sanh trong nhà phú quý để hưởng vui ngũ dục, hoặc cầu sanh lên trời để hưởng phước lạc cõi trời, hoặc cầu đời sau xuất gia làm Tăng, nghe một ngộ cả ngàn, được đại tổng trì, hoằng dương pháp đạo, phổ lợi chúng sanh thì đều chẳng được gọi là Có Tịnh.

Hỏi: - Xuất gia làm Tăng hoằng pháp lợi sanh lại có lỗi chi mà cũng bị loại trừ?

Ðáp: - Nếu đã đoạn kiến tư hoặc, đã liễu sanh tử, nương theo nguyện Ðại Thừa thị hiện sanh trong đời trược, thượng hoằng hạ hóa độ thoát chúng sanh thì được. Còn nếu tuy có trí nguyện nhưng chưa đoạn được kiến, tư hoặc thì dẫu cho lúc ban đầu thọ sanh chẳng mê, cũng lại khó giữ [không mê] trọn đời, nhiều đời. Tuy có thể hoằng pháp nhưng chưa chứng vô sanh, tình chủng vẫn còn nên khi gặp cảnh đối duyên sẽ khó tránh khỏi bị mê hoặc. Kẻ đã mê theo cảnh mà còn có thể mau giác ngộ thì trong cả vạn người chẳng có được một, hai; từ mê vào mê, chẳng thể tự độ, trọn kiếp trầm luân thì thật là vô số! Vì nghĩa ấy, đức Như Lai mới dạy người vãng sanh Tịnh Ðộ, gặp Phật, nghe pháp, chứng vô sanh nhẫn. Sau đó, nương theo Phật từ lực và tâm nguyện của mình trở vào Sa Bà độ thoát chúng sanh. Ðấy chính là có tiến chẳng thoái, có được không mất vậy. Chưa đoạn kiến tư hoặc mà trụ trong cõi này hoằng pháp thì các tông khác còn chấp nhận, chứ Tịnh Tông dứt khoát ngăn cấm.

Ðời lắm kẻ cho rằng tham Thiền là Có Thiền, niệm Phật là có Tịnh Ðộ; như vậy thì chẳng những đã không hiểu Thiền, Tịnh mà còn chẳng hiểu văn nghĩa, cô phụ tấm lòng đại từ bi của ngài Vĩnh Minh Cổ Phật, cắt đứt con đường tắt thoát khổ cho hành nhân đời sau. Tự mình lầm, làm người lầm, há chẳng là gây hại quá sức hay sao? Ðấy chính là nhận lầm hướng la bàn, sai suyển hào ly thì xa cách đến một trời một vực vậy.

Ông ta nói: - Tôi đã tạm hiểu ý nghĩa của Thiền, Tịnh và có - không; xin thầy giảng giải rành mạch lời văn sâu nhiệm của cả bốn bài kệ cho!

Tôi nói:

Có thiền, có tịnh Tịnh Ðộ.
Như cọp mọc thêm sừng.
Hiện tại làm thầy người,
Ðời sau làm Phật, Tổ

Nghĩa là: Người ấy triệt ngộ Thiền tông, minh tâm kiến tánh, lại còn thâm nhập Kinh tạng, hiểu trọn vẹn các pháp môn Quyền, Thật của Như Lai; nhưng trong các pháp lại chỉ chọn lấy một pháp Tín Nguyện Niệm Phật để làm chánh hạnh tự lợi, lợi người. Bậc thượng phẩm thượng sanh đọc tụng Ðại Thừa, hiểu Ðệ Nhất Nghĩa như đã nói trong Quán Kinh chính là hạng người này vậy. Người ấy có đại trí huệ, có đại biện tài; tà ma, ngoại đạo nghe tên vỡ mật. Người ấy như cọp đeo thêm sừng oai mãnh không chi sánh bằng. Ðối với kẻ đến học sẽ thuyết pháp tùy theo căn cơ: Thấy nên dùng Thiền Tịnh Song Tu để tiếp dẫn thì sẽ dùng Thiền Tịnh Song Tu tiếp độ; chỉ nên dùng chuyên tu Tịnh Ðộ để tiếp dẫn thì sẽ dùng chuyên tu Tịnh Ðộ tiếp độ. Chẳng luận thượng, trung, hạ căn không ai là chẳng được nhuận trạch, há chẳng phải là bậc đạo sư của trời, người hay sao? Ðến lúc lâm chung, người ấy được Phật tiếp dẫn vãng sanh thượng phẩm; trong khoảng khảy ngón tay hoa nở gặp Phật, chứng vô sanh nhẫn; thấp nhất thì cũng chứng bậc Sơ Trụ trong Viên giáo; cũng có người đốn siêu các địa vị, đạt đến bậc Ðẳng Giác. Bậc Sơ Trụ trong Viên giáo đã có thể hiện thân làm Phật trong trăm ngàn cõi, huống hồ là các địa vị kế tiếp đó lại càng lần lượt thù thắng hơn; nhất là địa vị Ðẳng Giác thứ bốn mươi mốt! Vì vậy Tổ mới nói: Ðời sau làm Phật Tổ.

Không thiền có Tịnh Ðộ.
Vạn người tu, vạn đỗ.
Nếu gặp Phật Di Ðà,
Lo gì chẳng khai ngộ

Nghĩa là: Hành nhân tuy chưa minh tâm, kiến tánh, nhưng đã quyết chí cầu sanh Tây phương. Do vì trong kiếp xưa, đức Phật đã phát đại thệ nguyện nhiếp thọ chúng sanh như mẹ nhớ con; nếu chúng sanh thật sự có thể [nhớ Phật] như con nhớ mẹ, chí thành niệm Phật thì sẽ cảm ứng đạo giao, liền được đức Phật nhiếp thọ. Vì ra sức tu Ðịnh, Huệ nên được vãng sanh. Kẻ ngũ nghịch, thập ác lúc lâm chung bị các sự khổ bức bách bèn sanh lòng hổ thẹn lớn lao, xưng niệm danh hiệu Phật đến mười tiếng hoặc chỉ một tiếng thì ngay trong lúc lâm chung, họ đều sẽ được Phật hóa thân tiếp dẫn vãng sanh. Ðấy há chẳng phải là vạn người tu, vạn đỗ hay sao? Những kẻ đó tuy niệm Phật chẳng lâu nhưng do niệm Phật cực kỳ mãnh liệt nên có thể đạt được lợi ích lớn lao ấy, chẳng nên so với kẻ tu hành lơ lơ là là mà luận là niệm nhiều hay ít. Ðã sanh về Tây phương thì tuy gặp Phật, nghe pháp có nhanh, chậm chẳng đồng, nhưng đều đã cao dự dòng thánh, trọn chẳng thối chuyển. Tùy theo căn tánh sâu, cạn, hoặc tiệm hay đốn mà chứng các quả vị. Ðã được chứng quả thì cần gì bàn đến khai ngộ nữa. Ấy chính là: Nếu gặp Phật Di Ðà, lo gì chẳng khai ngộ vậy.

Có Thiền không Tịnh Ðộ,
Mười tu, chín lần chần,
Ấm cảnh nếu hiện tiền,
Chớp mắt đi theo nó.

Nghĩa là: Hành nhân tuy triệt ngộ Thiền tông, minh tâm kiến tánh, nhưng kiến, tư, phiền não chẳng dễ đoạn trừ, phải trải qua nhiều kiếp trui luyện mới trừ sạch hết chẳng sót, mới có thể xuất ly phần đoạn sanh tử. Người chưa đoạn một mảy nào thì chẳng cần bàn đến! Còn nếu dẫu chỉ còn một mảy chưa đoạn sạch hết thì lục đạo luân hồi vẫn y như cũ khó thoát. Biển sanh tử sâu thẳm, đường Bồ Ðề xa vời; còn chưa về được đến nhà thì đã mạng chung! Người đại ngộ mười người hết chín đều như vậy. Cho nên mới nói: Mười người, chín lần chần. Lần chần (ta đà) là chần chờ. Ấm cảnh là cảnh của trung ấm thân; tức là những cảnh được hiển hiện trong khi lâm chung bởi nghiệp lực thiện, ác trong đời này và bao kiếp. Một khi những cảnh ấy hiện ra, trong chớp mắt sẽ liền đi theo nghiệp lực thiện, ác nào mạnh mẽ nhất để đi thọ sanh trong đường thiện hay ác; chẳng thể làm chủ tình thế dẫu chút mảy may nào! Giống như người mắc nợ, chủ nào mạnh sẽ kéo đi trước. Tâm tình lắm mối đa đoan, chỗ nào nặng hơn thì sẽ rớt vào đấy. Ngũ Tổ Giới Nhiễm sanh làm Tô Ðông Pha, Thảo Ðường Thanh lại sanh làm Lỗ Công đều là do lẽ trên vậy. Bởi thế mới nói: Ấm cảnh nếu hiện tiền, chớp mắt đi theo nó. Chữ Ấm: âm và nghĩa đồng với chữ Âm, nghĩa là che đậy; tức là: do nghiệp lực này che lấp nên chơn tánh chẳng thể hiển hiện. Chớp mắt (ế) nghĩa là nháy mắt, chớp mắt.

Có người hiểu chữ Ta là lầm, Ấm Cảnh là ngũ ấm ma cảnh, chung quy vì chẳng hiểu chữ Thiền và chữ Có nên đến nỗi giảng nói hồ đồ như vậy. Lẽ nào những bậc đại triệt đại ngộ mười người tu chín người lạc đường đi theo ngũ ấm ma nên bị ma dựa phát cuồng? Phàm những kẻ bị ma dựa phát cuồng đều là kẻ chẳng biết giáo lý, chẳng minh tự tâm, là giống tăng thượng mạn, tu mù luyện đui mà thôi. Sao chẳng biết hay dở, lại đem gán cho bực đại triệt đại ngộ! Ðiều này quan hệ rất lớn, chẳng thể chẳng biện luận rõ.

Không Thiền không Tịnh Ðộ.
Giường sắt và cột đồng.
Vạn kiếp cùng muôn đời.
Không một ai nương dựa.

Có kẻ bảo không Thiền, không Tịnh tức là vùi đầu tạo nghiệp ác, chẳng tu pháp lành. Lầm to, lầm to! Dù pháp môn vô lượng nhưng chỉ có Thiền và Tịnh là thích hợp cho các căn cơ hơn hết. Hành nhân chưa được triệt ngộ, lại chẳng cầu sanh, lơ lơ là là tu các pháp môn khác, Ðịnh - Huệ đã chẳng thể quân bình để đoạn hoặc chứng chơn, lại chẳng nương vào Phật từ lực để mang nghiệp vãng sanh; đem công đức trọn đời tu trì để cảm lấy phước báo sanh trong trời, người. Hiện đời đã không chánh trí thì đời sau ắt sẽ theo phước chuyển chìm đắm trong ngũ dục, tạo đủ các ác nghiệp. Ðã tạo ác nghiệp sẽ khó thoát ác báo. Khi một hơi thở chẳng hít vào được nữa thì liền đọa địa ngục, rành rành sẽ ở trong bao kiếp dài lâu nằm lăn nơi giường sắt, ôm ấp cột đồng để đền trả lòng tham thanh sắc, giết hại sanh mạng v.v... các thứ ác nghiệp. Tuy chư Phật, Bồ Tát rủ lòng xót thương, nhưng do ác nghiệp ngăn chướng, người ấy vẫn chẳng thể được huởng lợi ích. Người xưa nói: “Người tu hành nếu chẳng chánh tín, cầu sanh Tây phương, tu hành đủ các việc thiện khác thì gọi là kẻ oán đời thứ ba”, chính là ý này. Ấy là vì đời nay tu hành, đời sau hưởng phước; vì ỷ phước làm ác nên liền bị đọa lạc. Ðạt được cái vui giả tạm trong đời kế mà muôn kiếp phải vĩnh viễn chịu khổ. Ví dù nghiệp địa ngục tiêu thì lại chuyển sanh làm quỷ, súc; muốn có lại được thân người thì thật là điều khó nhất trong những điều khó. Vì vậy, Phật lấy tay chấm đất rồi hỏi A Nan rằng: “Ðất trong tay ta là nhiều, hay đất trong đại địa là nhiều?” A Nan bạch Phật: “Ðất trong đại địa nhiều”. Phật nói: “Ðược thân người như đất trong tay, mất thân người như đất trong đại địa”. [Xét theo lời Phật] thì muôn kiếp, ngàn đời, không một người nương dựa vẫn là lời luận rất gần vì câu ấy còn hạn cuộc vào âm vận của bài kệ.

Ôi, hết thảy pháp môn chuyên cậy vào tự lực; pháp môn Tịnh Ðộ chuyên nhờ Phật lực. Trong hết thảy pháp môn, phải trừ sạch hoặc nghiệp thì mới liễu sanh tử; còn trong pháp môn Tịnh Ðộ: do đới nghiệp vãng sanh liền dự dòng thánh. Ðại sư Vĩnh Minh sợ đời chẳng hiểu biết nên mới đặc biệt viết ra Liệu Giản để chỉ bày cho tương lai. Liệu Giản đáng gọi là chiếc bè báu nơi bến mê, là đạo sư nơi đường hiểm. Ðáng tiếc người đời chỉ đọc lướt qua, chẳng chịu nghiên cứu kỹ. Có phải là do chúng sanh ác nghiệp đồng phận nên xui khiến thế chăng?

Ông ấy nói: - Tôi xưa tội gì mà mê mất chơn thuyên, xưa có phước gì nay được nghe lời xuất yếu? Xin được ghé dự vào Tăng chúng, cầm nắm bình, khăn (9).
Tôi bảo: - Tôi nào có đức gì mà dám nhận lời ấy. Những lời tôi nói đều là tuân theo ý chư Phật, chư Tổ. Nếu ông có thể ngưỡng tín Phật, Tổ, hoằng dương Tịnh Ðộ thì không đức gì chẳng báo được, không tội gì chẳng diệt được. Xưa ngài Thiên Thân Bồ Tát lúc ban đầu báng Ðại Thừa, sau hoằng dương Ðại Thừa để chuộc lỗi. Nếu ông có thể noi theo dấu chân ngài thì tôi nguyện xả thân cúng dường.

Thượng tọa bèn lễ Phật, phát nguyện rằng: - Con tên là... từ nay trở đi chuyên tu Tịnh nghiệp, chỉ cầu khi lâm chung vãng sanh thượng phẩm, gặp Phật, nghe pháp, đốn chứng vô sanh. Sau đấy, chẳng rời An Dưỡng, vào khắp mười phương, dùng các thứ phương tiện: nghịch, thuận, ẩn, hiển để hoằng thông pháp này, độ thoát chúng sanh đến tột cùng vị lai chẳng hề gián đoạn. Hư không có tận, con nguyện vô cùng. Nguyện Phật Thích Ca, Phật Di Ðà, Thường Trụ Tam Bảo thương xót tấm lòng ngu thành của con, cùng rủ lòng nhiếp thọ.

Tôi bảo: - Về sự, Tịnh Ðộ là đại nhân duyên; về lý, Tịnh Ðộ là bí mật tạng. Ông có thể tin nhận phụng hành được thì chính là lấy sự trang nghiêm của chư Phật để tự trang nghiêm.

Thượng Tọa dạ dạ lui ra. Nhân đấy chép lại cuộc vấn đáp này để khuyên bảo người chưa biết đến pháp này.

Trở lại

Trở ra