45. Lời khuyên niệm Phật vãng sanh của Trần Hy Nguyện

Này các vị thiện nhân! Thế gian tu hành có ngàn con đường, có vạn nẻo đường, cớ sao chỉ khuyên người niệm Phật? Ấy là do một niệm của con người rất là quan trọng. Lôi hồn dẫn phách, tạo mạng sanh thân, không điều gì chẳng do nó! Do niệm lành nên lên thiên đường, bởi niệm ác nên xuống địa ngục. Trong một niệm sanh thẳng làm người, trong một niệm sanh ngang thành thú. Cớ sao trở thành ngạ quỷ? Chỉ bởi tâm niệm chẳng no đủ. Niệm ma sẽ thành ma, niệm Phật liền thành Phật. Nếu muốn thoát lục đạo không cách nào khác ngoài Niệm Phật. Còn nếu như chẳng niệm Phật thì một phen đánh mất thân người, muôn kiếp khó có lại được. Bởi vậy, đức Thích Ca Như Lai khai thị niệm Phật, Viễn công pháp sư (tổ Huệ Viễn) hoằng dương niệm Phật. Nếu niệm Phật chẳng thể hết khỏi sanh tử thì lẽ đâu Phật, Tổ cam đành dối người hay sao? Niệm Phật chẳng thành Phật thì lỗi ấy chẳng phải tại Phật. Miệng niệm tâm chẳng niệm thì dù có niệm cũng như chẳng niệm; dù có niệm cả đời cũng trọn chẳng có ích gì! Chữ Niệm phát xuất từ tâm, vốn chẳng từ miệng. Niệm từ tâm khởi, tiếng từ miệng ra. Tâm Phật, miệng Phật, niệm niệm nối nhau, chẳng bị vọng duyên xen tạp; đó gọi là nhất tâm bất loạn.

Hoặc có kẻ bảo: Có cả ngàn đức Phật, vạn đức Phật, cớ sao chỉ niệm A Di Ðà Phật? [Ðó là] Do khi ngài còn tu nhân, có [phát thệ] bốn mươi tám nguyện trang nghiêm Cực Lạc, thề độ kẻ mê. Trong các nguyện ấy, có nguyện: ‘Hết thảy chúng sanh trong mười phương thế giới, nếu ai xưng danh ta ắt sẽ sanh về nước ta. Nếu chẳng được vậy, thề chẳng thành Phật”. Vì vậy trong thế gian, dù tăng dù tục, già, trẻ, hiền, ngu, không ai chẳng xưng niệm A Di Ðà Phật. Ô hô! Nhân gian phú quý đến trăm tuổi cũng thành không. Phồn hoa cõi trời ngàn năm cũng hết. Một khi sanh về Tây phương Cực Lạc thế giới thì sống lâu vô lượng, mà cái pháp vãng sanh lại chỉ độc một câu Di Ðà. Thế gian có sự tốt lành quá tiện nghi như thế ấy, ai lại chẳng chịu hành theo, nào ai nghĩ đến chuyện xỏ giày sắt đi tầm đạo nữa! Từ nay trở đi, phải gấp nên phát ra thệ nguyện: “Nếu tôi chẳng niệm Phật, chẳng cầu sanh Tây phương Cực Lạc thế giới thì vĩnh viễn làm quỷ, súc sanh, vĩnh viễn đọa vào địa ngục vậy”. Ba Tạng mười hai bộ nhường cho kẻ khác ngộ, tám vạn bốn ngàn môn dành cho kẻ khác hành. Ngoài một câu Nam mô A Di Ðà Phật ra, không làm gì khác!

Ai nấy nên tự quét dọn một gian tịnh thất, thờ một bức tượng Phật; mỗi ngày đốt một lò hương sạch, thay một chén nước trong, tối đến thắp một ngọn đèn sáng. Coi tượng vẽ trên giấy hay tượng gỗ khắc hệt như Phật thật, sáng viếng chiều thăm, chí thành cung kính. Một xâu chuỗi chẳng rời tay, một câu Di Ðà chẳng ngơi miệng. Niệm lớn tiếng, niệm nhỏ tiếng, niệm sáu chữ, niệm bốn chữ, niệm gấp, niệm thong thả, niệm rõ ràng, niệm thầm, chắp tay niệm, quì gối niệm, đối trước Phật mà niệm, hướng về Tây mà niệm, gõ mõ niệm, lần chuỗi niệm, đi kinh hành niệm, lễ bái niệm, niệm một mình, niệm chung với người khác, niệm trong nhà, niệm ngoài đường, nhàn cũng niệm, bận cũng niệm, đi cũng niệm, đứng cũng niệm, ngồi cũng niệm, nằm cũng niệm, trong mộng cũng niệm; đấy mới là chơn niệm. Niệm đến mức tâm xót lệ ứa, niệm đến mức lửa tắt tro tạnh, niệm cho thần gào, quỷ khóc, niệm đến nỗi trời vui đất mừng. Vạc sôi sau lưng, ao sen trước mặt, dẫu ngàn vạn người ngăn trở không cho ta niệm cũng chẳng làm gì nổi.


46. Lời khuyên hai việc nên làm, ba điều chẳng nên làm khi niệm Phật của Tích Minh cư sĩ

a. Niệm Phật nên cầu sanh Tịnh Ðộ

Trồng dưa được dưa, gieo đậu được đậu; niệm Phật sẽ tự được thành Phật. Người đời chẳng biết rằng: ai cũng có thể đến được Tịnh Ðộ Cực Lạc! Trong tâm trước đã tự dấy động ngờ vực, mơ tưởng phước báo đời sau nên đến nỗi niệm Phật cả đời cũng chẳng được thành. Ðấy nào phải đức Phật buông lời dối gạt, chỉ do tự mình chẳng chịu tuân hành, đưa chân theo lối bậy. Kính xin người niệm Phật tin đến mười phần, hạnh đến mười phần thì chín phẩm đài sen chắc chắn sẽ có phần.

b. Niệm Phật nên hành đủ cả các điều lành

Sa Bà như biển khổ, niệm Phật hệt ngồi thuyền, sanh về Tịnh Ðộ dường như đến bờ kia, tích thiện như cánh buồm, bánh lái. Tuy trong kinh dạy lúc lâm chung, thập niệm có thể đới nghiệp vãng sanh, nhưng đấy là do đời trước tu tập nên mới nhất niệm hồi quang đốn siêu tam giới, chứ chẳng phải cầu may mà được. Dẫu biết rõ chẳng nên làm ác mà còn mặc ý làm càn rồi đợi đến lúc lâm chung mười niệm thì thiên địa, quỷ thần há dung túng mánh khóe ấy hay sao? Bao nghiệp cảnh lần lượt hiển hiện, một chữ Phật niệm còn chẳng ra, huống là niệm nổi mười niệm! Kính xin người niệm Phật nên “chớ làm các điều ác, phụng hành các điều thiện” (chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành). Thực hành tám chữ ấy để làm trợ hạnh, trọn đời gìn giữ, suốt đời thực hiện thì mới có thể cao đăng thượng phẩm.

c. Niệm Phật chẳng thể kiêm hành tà giáo

Niệm Phật là pháp môn chánh đại, tuy xem ra rất bình thường, nhưng thật ra rất viên đốn. Chỉ sợ kẻ ngu phu, ngu phụ nửa đường chán lười, bị người dụ vào các giáo thuyết tà ma ngoại đạo, đâm ra khinh thường một môn Tịnh Ðộ. Lúc sống phạm trọng hình, khi chết đọa địa ngục. Ðau thay, xót thay! Dám khuyên người niệm Phật, niệm cho thật thuần thục, niệm tới nhất tâm bất loạn thì tự nhiên hoa nở thấy Phật, đừng tróc quái cầu thần, vọng sanh ý tưởng khác, toàn là vô ích, lại còn tự hại.

d. Niệm Phật chẳng nên dùng tiền (vàng mã)

Ðại pháp xuất thế không chi bằng Niệm Phật. Thường thấy người đời do tín căn bất chánh thường đối với đức Phật mình đang niệm đó nghĩ rằng sau khi chết đi có thể dùng tiền [để đút lót được]. Chỉ điên đảo nghĩ lúc lâm chung, có thể dùng tiền mua chuộc cõi âm, chứ chẳng hề biết hồi hướng Tịnh Ðộ, há chẳng phải là lầm lạc lớn sao! Dám xin người niệm Phật phải nên quy y Phật A Di Ðà và Quán Âm, Thế Chí… các đại Bồ Tát, quyết định nương dựa vào cái nhân niệm Phật thù thắng này để cầu sanh Tịnh Ðộ. [Muốn được] mãi mãi thoát khỏi tam giới để báo tứ ân thì trong muôn pháp, không pháp nào bằng được đại pháp xuất thế này. Chỉ nên thực hành pháp này để trả công cho sứ giả vô thường. Mong lắm thay!

e. Niệm Phật chẳng thể sát sanh càn

Niệm Phật lấy từ bi làm gốc. Nếu như chẳng kiêng giết chóc thì công hiệu giảm thiểu. Hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh, từ bao kiếp đến nay đều cùng làm quyến thuộc của nhau. Há nỡ cam lòng giết kẻ khác để nuôi mình? Dám khuyên người niệm Phật, mỗi lúc thò đũa gắp thường nghĩ như vậy thì mới có thể tự thôi ăn mặn, chóng thành Tịnh nghiệp. Nếu chẳng thể trường trai thì trước hết cần phải tránh giết hại. Nếu có thể giữ vững sáu ngày chay thì cũng được vãng sanh; may ra cũng có thể dứt được thói sát sanh!

Ghi chú về Lục Trai, Nguyệt Trai

Lục Trai là mỗi tháng sáu ngày: mồng tám, mười bốn, rằm, hăm ba, hăm chín, ba mươi. Tháng thiếu thì lấy ngày hăm tám, hăm chín làm ngày ăn chay.
Nguyệt Trai: Mỗi năm lấy ba tháng Giêng, tháng Năm, tháng Chín, ăn chay trọn tháng. Nếu chẳng thể ăn chay ba tháng thì trong ba tháng này nên kiêng giết hại.
Kinh nói: “Mỗi tháng, vào sáu ngày, Tứ Thiên Vương tuần hành Nam Thiệm Bộ Châu. Mồng tám, hai mươi ba: Sứ Giả tuần hành. Mười bốn, hăm chín: Thái Tử tuần hành. Mười lăm, ba mươi: Thiên Vương đích thân đi tuần, khảo sát nhân gian: kẻ nào hiếu thuận cha mẹ, kẻ nào lòng trung báo đáp ơn vua; kẻ nào chánh trực công bình, kẻ nào từ bi phương tiện; kẻ nào quy y Tam Bảo, kiêng sát sanh, trì trai, tu nhiều điều lành. Với những kẻ như vậy thì tăng thêm phước thọ. Còn kẻ nào ngỗ nghịch mẹ cha, kẻ nào bội phản quân vương, kẻ nào khi dối gian xảo, kẻ nào cương ngạnh bạo ngược, kẻ nào chẳng tin Tam Bảo, kẻ nào giết càn sanh mạng, gây đủ việc ác thì đối với những kẻ như vậy sẽ tiêu phước diệt thọ.
Lại trong ba tháng Giêng, tháng Năm, tháng Chín, thiên vương được phân công trấn giữ Nam Thiệm Bộ Châu, khảo sát tội phước. Trong tháng Giêng, tháng Năm, tháng Chín, Thiên Ðế Thích dùng gương báu lớn chiếu thẳng xuống Nam châu để khảo sát tội phước. Có đáng sợ không? Có đáng dè dặt không?

Trong sáu ngày trai này, trong ba tháng trai ấy phải nên trai giới niệm Phật, sám hối tu tỉnh. Trong sáu ngày trai này, ba tháng trai ấy mà ăn chay, làm phước thì công đức càng lớn. Ngược lại, nếu làm ác thì tội nghiệp càng sâu. Nếu như chẳng thể ăn chay trọn tháng thì phải giữ sáu ngày chay. Còn nếu như ngày ngày ăn chay, ngày ngày niệm Phật, ngày ngày tu phước, đem nhân lành ấy hồi hướng vãng sanh thì lúc người ấy lâm chung, quyết định không bị các bịnh khổ, được A Di Ðà Phật đích thân đến rước, trong khoảng một niệm được sanh về cõi An Dưỡng (Cực Lạc).


47. Ấn Quang đại sư khai thị 

* Trong một việc niệm Phật, điều cần yếu nhất là thoát sanh tử. Ðã là để thoát sanh tử thì phải tự sanh tâm nhàm chán cái khổ sanh tử, tự sanh tâm ưa thích niềm vui ở Tây phương. Có như vậy thì ngay trong mỗi niệm, hai pháp Tín, Nguyện sẽ được đầy đủ trọn vẹn. Lại còn niệm Phật chí thành khẩn thiết như con nhớ mẹ thì ba pháp Phật lực, Pháp lực, tự tâm tín nguyện công đức lực sẽ cùng hiển bày trọn vẹn. Ví như mặt trời mọc lên chói lọi giữa hư không, dẫu có sương dầy, băng đọng thì chẳng lâu cũng sẽ tan mất.

Người ở trong đời nhất nhất phải giữ bổn phận làm người, chẳng nên toan tính những chuyện ngoài bổn phận mình. Nghĩa là: người quân tử phải nghĩ sao cho chẳng [có những hành vi] sai trái đối với địa vị của mình. Lại [như thánh nhân đã] nói: “Quân tử hành động sao cho địa vị của mình được trong sạch”. Cần phải biết là đối với việc giải thoát sanh tử, kẻ ngu phu, ngu phụ lại dễ [thực hiện] vì tâm họ chẳng có dị kiến. Nếu kẻ thông Tông hiểu Giáo buông bỏ được cái thân thì thực hiện được công phu của kẻ ngu phu, ngu phụ cũng dễ dàng, chứ đâu đến nỗi bậc cao nhân thông Tông hiểu Giáo lại chẳng bằng nổi kẻ ngu phu, ngu phụ được mang nghiệp đi vãng sanh!

Pháp môn Tịnh Ðộ lấy vãng sanh làm chủ, tùy duyên tùy phận mà chuyên tâm, gắng gỏi cái chí của mình. Chắc chắn là đức Phật chẳng hề lừa dối người. Nếu mình không cầu thăng lên, ắt sẽ bị đọa xuống, đó chính là tự mình lầm lạc, nào có phải là lỗi của Phật đâu?

* Thân người khó được, khó sanh ở chính giữa đất nước, Phật pháp khó nghe, sanh tử khó thoát. Chúng ta may được làm người, sanh ở giữa nước lớn, được nghe Phật pháp. Những kẻ chẳng may, tự thẹn nghiệp sâu chướng nặng, không có sức đoạn hoặc để mau thoát tam giới hầu liễu sanh thoát tử vậy. Chúng ta lại may mắn được nghe đức Như Lai ta do tâm bi triệt để nói ra phương tiện đại quyền xảo hay lạ là pháp môn Tịnh Ðộ khiến hạng phàm phu lè tè sát đất cũng được đới nghiệp vãng sanh. Thật chẳng còn gì may mắn lớn lao hơn nữa! Nếu chẳng phải là từ vô lượng kiếp đến nay chúng ta đã gieo sâu căn lành thì làm sao nghe được pháp chẳng nghĩ bàn này! [Ai nấy] chẳng gấp sanh lòng tin chơn thật, phát nguyện cầu sanh ư?

* Một pháp niệm Phật trọng tại Tín, Nguyện. Tín Nguyện chơn thật thiết tha thì dẫu tâm chưa thanh tịnh vẫn được vãng sanh. Vì sao vậy? Do chí tâm niệm Phật là năng cảm, bởi thế đức A Di Ðà Phật liền sẽ ứng. Giống như nước trong sông biển chưa thể hết tướng lay động, nhưng chỉ cần không có cuồng phong, sóng lớn thì vầng trăng sáng trên không liền hiện rành rành. Cảm ứng đạo giao như mẹ con tưởng nhớ nhau. Những kẻ chuyên trọng tự lực, chẳng cậy vào Phật lực thì không cách chi thấu hiểu nổi nghĩa lý này.

* Tuy niệm Phật quý ở tâm niệm nhưng cũng chẳng nên bỏ miệng tụng vì ba thứ thân, khẩu, ý thường hỗ trợ nhau. Nếu tâm hay ức niệm nhưng thân chẳng lễ kính, miệng chẳng trì tụng thì cũng khó được lợi ích. Trong cõi đời, mỗi khi nâng vật nặng còn phải dùng tiếng hò la để giúp sức, huống hồ là khi muốn nhiếp tâm để chứng tam muội? Vì vậy, kinh Ðại Tập dạy: “Ðại niệm thấy đại Phật, tiểu niệm thấy tiểu Phật”. Cổ đức bảo niệm Phật lớn tiếng thì thấy thân Phật lớn, niệm nhỏ tiếng thì thấy thân Phật nhỏ. Nay đã là phàm phu đầy dẫy triền phược, tâm nhiều hôn tán, nếu chẳng dùng sức thân, miệng lễ tụng mà mong được nhất tâm thì ta chưa từng thấy có ai đạt được vậy.

* Tâm tham, sân, si, ai ai cũng có. Nếu biết đấy là bịnh thì thế lực của tham sân si khó bề bộc phát. Ví như có kẻ cắp vào nhà người ta, nếu ông chủ nhận lầm là người nhà thì của báu của cả nhà đều bị trộm cắp hết sạch. Nếu biết nó là kẻ trộm sẽ chẳng cho nó được thong thả lưu lại nhà mình trong khoảng một khắc, ắt sẽ đuổi nó đi thật xa cho khuất mắt nên tiền của chẳng mất mà chủ nhân cũng được yên ổn vậy. Cổ đức dạy: “Chẳng sợ niệm khởi, chỉ e biết chậm”. Một khi tham sân si nổi lên, nếu lập tức biết rõ thì chúng lập tức tiêu diệt. Nếu coi tham, sân, si chính là chủ của nhà mình thì cũng như nhận giặc làm con, tiền của trong nhà bị tiêu tán hết!

* Ðối với mọi sự, người niệm Phật cần phải tâm thường trung thứ, tâm luôn đề phòng lỗi lầm. Biết lỗi liền sửa, thấy việc nghĩa liền hăng hái làm thí mới xứng hợp với Phật. Người làm được như vậy sẽ quyết định vãng sanh. Nếu chẳng được như thế thì khó tương ứng với Phật, quyết định khó cảm thông.

* Phàm phu sửa đổi lỗi lầm, hướng theo điều thiện, lại tu Tịnh nghiệp thì chỉ quý ở chỗ chơn thành, tối kỵ hư giả. Chẳng được phô phang hành thiện, tu hành bề ngoài nhưng trong tâm chẳng trung, chẳng thứ. Cừ Bá Ngọc hành thiện đến tuổi năm mươi, vẫn biết lỗi của bốn mươi chín năm trước. Có như vậy, mới mong thành thánh, thành hiền, học Phật, học Tổ, thành bậc công thần danh giáo, làm đứa con đích thật của đấng Như Lai, chớ chẳng phải cốt chỉ để trở thành bậc trưởng thượng trong hàng Tăng, tục vậy.

* Người học đạo cư tâm lập hạnh, cần phải chất trực, trung chánh, chẳng nên có chút tơ hào riêng tây, ủy khuất. Nếu như có chút thiên vị thì khác nào cái mực chuẩn của đòn cân chẳng chuẩn, đem cân các vật đều thành ra nặng, nhẹ sai lầm; giống như thể chất của gương bất tịnh nên soi các vật lệch lạc chẳng đúng. Sai chỉ bằng tơ tóc, mất đến nghìn trùng; lần lượt càng sai lệch thêm, ai ngăn ngừa cho nổi. Vì vậy, kinh Lăng Nghiêm dạy: “Mười phương Như Lai đều cùng một đạo. Xuất ly sanh tử đều do tâm chất trực”. Tâm lẫn ngôn từ đều chất trực, cho đến trong các địa vị chung, thỉ, trung gian, vĩnh viễn không có các tướng ủy khúc như thế. Kinh Thư chép: ‘Nhân tâm nguy ách, đạo tâm tế nhị, ròng chuyên một mối, đừng chấp hai bên”. Do đó, ta thấy rằng bậc thánh nhân thế gian lẫn xuất thế gian đều dùng cái tâm chất trực, trung chánh làm gốc.

* Làm con thì phải làm rạng rỡ đức của cha mẹ. Cách làm rạng rỡ đức hạnh của cha mẹ chú trọng ở hạnh khiêm nhường cung kính, cần phải khắc kỷ giữ lễ, ngăn tà, giữ lòng thành, biết lỗi liền sửa, thấy việc nghĩa phải hăng hái, hiểu nhân rõ quả, tránh sát sanh, phóng sanh, đừng làm các điều ác, phải làm các điều thiện, sanh lòng tin, phát nguyện, trì danh hiệu Phật, tự mình thực hành, dạy người thực hành cùng sanh Tịnh Ðộ. Làm được như thế thì dẫu người khác chưa biết đến đức hạnh của cha mẹ, nhưng vì kính ngưỡng đức hạnh của người ấy nên cũng kính ngưỡng đức hạnh của cha mẹ, tổ tông người ấy, cho là do vì cha mẹ, tổ tông đã ngầm tu tập đức hạnh từ lâu nên đức hạnh mới được tiếp nối như thế. Nếu không thì dẫu cha mẹ tổ tông vốn sẵn có đức hạnh tốt đẹp ai nấy đều biết, nhưng do kẻ ấy bất tiếu (2) ắt thiên hạ sẽ ngờ rằng chắc là cha mẹ, tổ tông nó tuy có đức tốt, nhưng chắc là có làm điều chi ác mà không ai hay biết, chứ nếu không thì dòng dõi đức hạnh tốt đẹp sao lại sanh ra con cháu bất tiếu đến vậy? Vì vậy, biết lập thân hành đạo chính là lảm rạng rỡ cái đức của cha mẹ, tổ tông. Làm con người nên làm dè dặt, cẩn trọng, sốt sắng tu thân thì mới mong khỏi uổng một kiếp.

* Ðời có mẹ hiền nên mới có hiền nhân. Bậc thánh mẫu khi xưa dạy con ngay từ khi còn đang mang thai; ấy là rèn đúc con ngay tự lúc ban đầu để mong tập thành tánh. Thế gian dùng chữ Thái Thái để gọi nữ nhân vốn là do ba vị thánh nữ: Thái Khương, Thái Nhậm, Thái Tự đều hay giúp chồng dạy con, khai sáng vương nghiệp lâu đến tám trăm năm nên dùng danh từ ấy để gọi nữ nhân vậy. Ta thường bảo đối với quyền trị quốc bình thiên hạ, nữ nhân lo góp phần đã hơn quá nửa. Lại thường bảo: Dạy cho con gái cái gốc của việc tề gia trị quốc thì chỉ cần dạy họ thực hiện trọn vẹn đạo làm vợ là giúp chồng dạy con vậy. Chẳng phải như hạng nữ lưu hiện tại, đa số chẳng giữ bổn phận, muốn cầm quyền, làm đại sự, nhưng chẳng biết tự vun bồi từ ngay trong gia đình; khác nào dẫu có gom sắt của vạn nước, chín châu, cũng chẳng đúc hết nổi lỗi lầm to lớn ấy (3). Vì vậy, nhân tâm thế đạo càng suy càng kém, thiên tai nhân họa nổi lên tơi bời. Tuy là do ác nghiệp của chúng sanh đồng phận cảm vời, nhưng thật cũng là do gia đình thiếu giáo dục nên mới thành nỗi ấy. Vì thế, kẻ có thiên tư bị ảnh hưởng trở thành cuồng vọng; kẻ không thiên tư cam bề ngu độn. Nếu như ai nấy đều được hiền mẫu uốn nắn thì ai ai mà chẳng thành thiện sĩ. Lúc túng cùng thì riêng mình thiện, khi hiển đạt thì kiêm thiện; chứ đâu đến nỗi trên đã cai quản vô đạo, dưới chẳng tuân giữ phép tắc. Tệ đoan trăm mối phát sanh, dân còn biết nhờ đâu để sống được nữa đây!

* Trả lời thư của Lâm Giới Sanh: “Thầy Triệt Quyền đến gặp tôi, cho biết tình trạng oán hận của cư sĩ. [Cư sĩ] bảo với kẻ tục vô tri rằng: ‘Làm lành gặp nạn, tu hành vô ích’ v.v... các thứ tà thuyết. Nghe như vậy, tôi bàng hoàng, sợ bậc thượng trí bởi thế sẽ buông bỏ công hạnh, kẻ hèn ngu càng hăng làm ác. Vì vậy, tôi chẳng nệ hủ lậu, xin dùng lời thẳng thưa rằng:

Trong kinh Như Lai nói quả báo thông cả ba đời. Ðại lược, phàm nhân sanh con là do bốn nhân, quả báo thông suốt cả ba đời:

- Thứ nhất là hiện báo, tức là hiện tại làm lành, làm dữ thì ngay trong đời này sẽ hưởng phước, lãnh họa. Chẳng hạn như sĩ tử chăm chỉ học hành thì ngay đời này đạt được công danh. Việc này mắt phàm thấy được.

- Thứ hai là sanh báo, tức là đời này làm thiện hay làm ác thì đời sau sẽ hưởng phước hay chịu tội. Như tổ phụ trọng chữ nghĩa thì con cháu mới phát đạt. Ðiều này mắt phàm chẳng thấy nổi, thiên nhãn họa may mới thấy được (Ðời này hay đời sau là ước theo người ấy mà nói. Vì là việc cách đời nên khó dùng ví dụ giải rõ, đành tạm dùng tổ phụ, con cháu để cho người đời dễ hiểu. Chớ nên câu nệ vào văn tự đến nỗi hiểu sai ý nghĩa).

- Thứ ba là hậu báo, tức là đời này làm lành, làm dữ thì đến đời thứ ba, hoặc bốn, năm, sáu bảy đời hoặc trăm ngàn vạn đời cho đến nhiều kiếp sau mới chịu báo lành dữ như vương nghiệp nhà Thương, nhà Chu thật sự bắt đầu khai sáng từ lúc vua Ðại Vũ phù tá vua Thuấn. Nếu là việc trong ba, bốn đời thì thiên nhãn còn có thể thấy được nhưng nếu là việc kéo dài đến nhiều kiếp thì chỉ có ngũ nhãn viên minh của đức Như Lai mới thấy nổi.

Biết nghĩa lý của ba thứ báo này thì hiểu làm thiện sẽ hưởng điều tốt lành, làm điều bất thiện sẽ bị lãnh tai ương. Thánh ngôn vốn tự chẳng sai lầm; phú quý, bần tiện, thọ, yểu, cùng, thông, mạng trời chưa từng thiên vị. Cảnh duyên đến như bóng hiện trong gương. Bậc trí chỉ lo sửa đổi hình dung ngoài gương; kẻ ngu căm ghét hình ảnh hiện trong gương. Cảnh nghịch xảy đến vẫn thuận chịu theo mới là vui đạo trời; chẳng oán, chẳng căm mới là lập mạng.

Con cái có bốn nhân: Một là báo ân, hai là báo oán, ba là đòi nợ, bốn là trả nợ.

a. Báo ân là trong đời trước, cha mẹ có ân đối với con cái. Nhằm báo ân nên sanh làm con để săn sóc, phụng dưỡng, sống thờ, chết chôn, ắt sẽ làm cho cha mẹ khi sống vui vẻ, khi thác lại cúng tế; thậm chí thờ vua giúp dân, danh ghi sử xanh khiến thiên hạ đời sau vì kính trọng người ấy mà kính luôn cả cha mẹ, chẳng hạn như Tăng Lỗ Công, như Trần Trung Túc, Vương Quy Linh, Sử Ðại Thành (4). Con hiếu cháu hiền đời nay đều là như thế cả.

b. Báo oán là trong đời trước, cha mẹ đối với con có điều phụ bạc. Vì để báo oán, chúng sẽ sanh vào làm con. Nhỏ thì ngỗ nghịch mẹ cha, lớn thì làm cho bố mẹ bị vạ lây. Lúc sống chẳng phụng dưỡng ngọt bùi, thác mang mối nhục xuống tận cửu tuyền. Lại những trường hợp báo oán sâu nặng thì chúng tuy thân giữ địa vị quyền quí, nhưng chẳng tuân theo lề thói, diệt môn phá tộc, quật mồ dời mả khiến thiên hạ đời sau chẳng những thóa mạ kẻ ấy lại còn nguyền rủa cả cha mẹ, ví dụ như Vương Mãng, Tào Tháo, Ðổng Trác, Tần Cối vậy.

c. Trả nợ là trong đời trước, con đoạt lấy của cải mẹ cha. Vì để trả nợ nên sanh vào làm con. Nếu nợ nhiều thì làm con suốt đời. Nếu nợ ít thì chỉ sống nửa chừng liền chết, chẳng hạn như học sắp thành tài liền mất mạng; buôn bán vừa mới có lời đã chôn thân.

d. Ðòi nợ là trong đời trước, cha mẹ mắc nợ con tiền của. Vì để đòi nợ nên sanh vào làm con. Nợ nhỏ thì nhọc nhằn, tốn của rước thầy, tốn tiền cưới vợ cho và nhọc lòng dạy răn đủ thứ, những mong con được thành người, nhưng sắp thành công thì đại hạn xảy tới, đột nhiên con chết mất đi! Mắc nợ lớn thì chẳng chỉ có vậy, ắt phải đến nỗi con phá tan sản nghiệp, nhà tan cửa nát, người chết mới thôi.

Tôi xét kỹ, nghi rằng đứa con này của cư sĩ là do đòi nợ mà sanh làm con; may là mắc nợ ít nên tuổi trẻ đã mất. Ông hãy nên sám hối nghiệp trước, nỗ lực siêng tu, trời sẽ ban cho đứa con hiếu làm rạng rỡ dòng họ. Huống hồ đức thánh Khổng tuổi trung niên chôn con, Nhan Uyên đại hiền nhưng tuổi trẻ chết yểu, Nguyên Hiến nghèo mạt, Tử Lộ tuẫn nạn, Bá Di, Thúc Tề chết đói ở Thủ Dương, Bá Ngọc khốn cùng nơi nước Vệ. Ai dám nói vì tu đức nên thánh hiền bị trời hại ư? Nào có phải sanh tử có mạng, phú quý tại trời đâu! Chỉ nên trách mình đức chẳng chơn thành, đừng chất vấn tại sao trời giáng họa ban phước! Nếu có thể làm được như vậy thì ngũ phước tự nhiên vào cửa, lục cực quyết định tránh xa khỏi nhà mình.
Nếu chẳng tin tôi thì hãy xem sự thực như mặt trời sáng tỏ: Ông phải biết người sống trong cõi đời này có đủ cả tám khổ; dẫu có sanh lên trời cũng khó thoát năm sự suy tổn. Chỉ có Tây phương Cực Lạc thế giới chẳng có các nỗi khổ, chỉ hưởng những niềm vui. Há chẳng phải là trời thấy ông đề xướng Tịnh Ðộ bèn dùng đứa con vô phước vô thọ ấy làm nhát kim đâm ngay đỉnh đầu ông để cảnh tỉnh ông rằng: ba cõi chẳng an ví như nhà lửa, các khổ đầy dẫy thật là đáng sợ. Mạng người vô thường nhanh tựa ánh chớp, chẳng cách nào níu lại được. Hết thảy pháp hữu vi như mộng, huyễn, bọt nước, hình ảnh. Ðối với những điều này vẫn còn chẳng ngộ để gắng sức tu Tịnh nghiệp thì khác gì gỗ, đá vô tình sống trọn cả đời trong vòng trời đất vậy. Là bậc nam tử có huyết tánh há cam đành làm khối thịt cử động, thây chết biết đi, chết mục nát cùng cỏ cây! Ông đề cao thánh cảnh nhưng lại chịu làm phàm phu, tuy gặp việc cảnh tỉnh lớn lao lại chẳng phát phẫn; nghe đạo của thánh hiền, Phật, Tổ mà chẳng chịu tu thì nào có phải là trời phụ người đâu, mà chính là người phụ trời đấy chứ! Kính mong ông xét nghĩ!


48. Ba điều tối quan trọng lúc lâm chung (Lâm chung tam đại yếu)

Ðiều bi thảm nhất trong thế gian thật không chi bằng cái chết, nhưng khắp cả người đời, có ai may mắn thoát được nổi? Vì vậy, người hữu tâm muốn lợi mình lợi người thì chẳng thể không sớm lo liệu. Thật ra, một chữ CHẾT vốn chỉ là giả danh. Do kỳ hạn của quả báo chiêu cảm từ [các nhân] đời trước đã tận nên bỏ tấm thân này rồi lại thọ cái thân khác vậy. Kẻ chẳng biết Phật pháp thì thật chẳng biết tính toán cách nào, chỉ đành mặc cho nghiệp xoay chuyển. Nay đã được nghe pháp môn Tịnh Ðộ phổ độ chúng sanh của đức Như Lai thì phải nên tín, nguyện niệm Phật, sắp sẵn tư lương vãng sanh, hầu mong thoát được cái huyễn khổ luân hồi sanh tử, chứng sự vui chơn thật Niết Bàn thường trụ.

Nếu ai có cha, mẹ, anh, em và các quyến thuộc mắc phải trọng bịnh, bịnh tình khó bề thuyên giảm thì nên phát tâm hiếu thuận, từ bi, khuyên họ niệm Phật cầu sanh Tây phương và trợ niệm cho họ để mong người bị bệnh nhờ đó sau khi chết liền được sanh về Tịnh Ðộ. Sự lợi ích như thế kể sao cho xiết? Nay tôi nêu lên ba điều trọng yếu để làm căn cứ hòng thành tựu sự vãng sanh cho người lâm chung; lời lẽ tuy thô vụng nhưng ý vốn lấy từ kinh Phật. Nguyện người thấy nghe, gặp được nhân duyên này sẽ đều cùng làm theo. Ba điều trọng yếu là:

* Một là khéo chỉ dạy, an ủi, khiến sanh chánh tín.

* Hai là cả nhà thay phiên niệm Phật để giúp tịnh niệm.

* Ba là hết sức tránh xao động, khóc lóc, kẻo làm hỏng việc.

Nếu có thể tuân hành theo ba pháp này thì quyết định sẽ tiêu trừ được túc nghiệp, tăng trưởng Tịnh nhân, được Phật tiếp dẫn vãng sanh Tây phương. Một phen đã được vãng sanh thì sẽ siêu phàm nhập thánh, liễu sanh thoát tử, dần dần tấn tu ắt sẽ đạt tới quả Phật viên thành mới thôi. Sự lợi ích như vậy hoàn toàn nhờ vào sức trợ niệm của quyến thuộc. Có làm được như thế mới là hiếu chơn thật đối với cha mẹ, mới thật là chơn đễ (5) đối với anh em trai, chị em gái, mới thật là chơn từ đối với con cái, mới thật là chơn nghĩa, chơn huệ đối với bằng hữu và đối với mọi người; dùng những điều ấy để vun bồi thêm cái nhân Tịnh Ðộ của mình. Xin thưa với những người cùng tin tưởng là cứ lâu ngày chày tháng sẽ nào có khó gì mà chẳng tập thành lề thói được. Nay tôi sẽ trình bày từng điều một để lúc lâm chung khỏi bối rối vậy.

a. Ðiều thứ nhất là khéo chỉ bày, an ủi, khiến sanh chánh tín: Thiết tha khuyên người bịnh buông xuống hết thảy, chỉ nhất tâm niệm Phật. Nếu như cần phải giao phó việc gì thì phải mau giao phó. Giao phó xong thì chẳng đếm xỉa đến nữa, chỉ nghĩ ta nay theo Phật vãng sanh cõi Phật; tất cả sự giàu vui, quyến thuộc thế gian, các thứ trần cảnh đều là chướng ngại, thậm chí khiến mình mắc hại. Vì thế, chẳng nên sanh tâm niệm quyến luyến. Phải biết là một niệm chơn tánh của chính mình vốn chẳng có chết. Cái chết vừa nói đó chỉ là xả thân này để lại thọ cái thân khác mà thôi. Nếu chẳng niệm Phật thì sẽ phải thuận theo nghiệp lực thiện, ác để lại thọ sanh trong nẻo lành, dữ. Nếu như trong lúc lâm chung, nhất tâm niệm Nam Mô A Di Ðà Phật thì do tâm niệm Phật chí thành sẽ quyết định cảm được Phật phát đại từ bi, đích thân tiếp dẫn khiến mình được vãng sanh. Ðừng nghi rằng: mình là nghiệp lực phàm phu, làm sao chỉ do niệm Phật trong một thời gian ngắn lại có thể thoát khỏi sanh tử, vãng sanh Tây phương? Nên biết rằng: vì đức Phật đại từ bi nên kẻ tội nhân thập ác, ngũ nghịch rất nặng lúc lâm chung, tướng địa ngục hiện ra mà nếu có thiện tri thức dạy cho niệm Phật bèn hoặc niệm mười tiếng hoặc chỉ một tiếng thì cũng được Phật tiếp dẫn, vãng sanh Tây phương. Hạng người ấy chỉ niệm mấy câu còn được vãng sanh, sao còn ngại mình nghiệp lực nặng, niệm Phật ít ỏi nên sanh lòng nghi nữa ư? Phải biết là chúng ta vốn có chơn tánh, chơn tánh của ta và chơn tánh của Phật chẳng hai; chỉ vì ta hoặc nghiệp còn sâu nặng nên chẳng thọ dụng được! Nay đã quy mạng nơi Phật như con nương về cha chính là trở về với cái ta vốn sẵn có, chứ nào có phải là điều gì bên ngoài đâu!

Hơn nữa, xưa kia, đức Phật đã phát nguyện: “Nếu có chúng sanh nghe danh hiệu của ta mà chí tâm tin ưa, dẫu chỉ mười niệm mà nếu chẳng được vãng sanh thì chẳng lấy ngôi Chánh Giác”. Vì thế, hết thảy chúng sanh lúc lâm chung phát tâm chí thành niệm Phật cầu sanh về Tây phương thì không một ai là chẳng được ngài rủ lòng từ tiếp dẫn. Ngàn vạn phần chẳng được hoài nghi nữa! Hoài nghi chính là tự mình lầm lạc, họa ấy chẳng nhỏ. Vả lại, lìa cõi khổ não này sanh về thế giới vui vẻ ấy là điều hết sức khoái ý cho nên phải sanh tâm hoan hỷ, ngàn vạn phần chẳng được sợ chết. Dẫu sợ chết cũng tránh khỏi cái chết, lại còn mất phần vãng sanh Tây phương nữa vì tâm mình trái với tâm Phật vậy. Dẫu Phật sẵn lòng đại từ bi cũng vô phương cứu tế người chẳng nương theo lời dạy của Phật!

Vạn đức hồng danh của Phật A Di Ðà giống như lò luyện lớn lao; tội nghiệp trong nhiều kiếp của chúng ta như một mảnh tuyết trong hư không. Nghiệp lực phàm phu do bởi niệm Phật nên nghiệp liền tiêu diệt, giống như mảnh tuyết bám vào bên lò lửa lớn liền bị tiêu hết chẳng còn gì nữa. Vả lại, nếu nghiệp lực đã tiêu thì bao nhiêu thiện căn sẽ tự nhiên tăng trưởng thù thắng; sao lại còn ngờ chẳng được vãng sanh, Phật chẳng đến tiếp dẫn nữa ư?

Chỉ dạy, an ủi ngọn ngành, uyển chuyển như thế khiến cho bịnh nhân tự mình sanh tâm chánh tín. Ðấy chính là những điều cần phải khai thị cho bịnh nhân. Còn như những việc chí thành, tận hiếu mà ta phải nên làm thì cũng chỉ chú trọng ở những điểm ấy; chẳng nên thuận theo thói tục cầu thần, tìm thuốc. Mạng lớn đã sắp hết thì làm sao quỷ thần, thuốc men giữ cho khỏi chết được! Nếu đã nhọc lòng vì những sự vô ích như thế thì đối với một sự niệm Phật sẽ bớt thành khẩn, làm sao cảm thông đức Phật được! Nhiều kẻ lúc cha mẹ lâm chung chẳng tiếc tiền của, thỉnh vời nhiều thầy thuốc đến khám. Ðấy là mua tiếng hiếu, cốt ý muốn được người đời khen mình tận hiếu đối với cha mẹ; nào hay thiên, địa, quỷ thần xét soi tường tận nỗi lòng mình. Vì vậy, đối với những sự tống táng cha mẹ mà quá sức phô trương thì nếu chẳng mắc tai trời cũng ắt bị vạ người. Kẻ làm con chỉ nên chú trọng đến nơi thần thức của cha mẹ sẽ sanh về. Lời xưng tụng của thế nhân chẳng đáng cho kẻ sáng mắt nhếch mép cười, lẽ đâu mình lại dốc lòng mong mỏi, thật chỉ khiến cho mình phải mắc vào cái lỗi bất hiếu to lớn mà thôi!
b. Thứ hai là cả nhà thay phiên niệm Phật để giúp tịnh niệm. Trước đó, đã giáo hóa bịnh nhân khiến họ sanh chánh tín; nhưng vì tâm lực người bịnh ấy yếu ớt, chưa kể đến hạng người lúc còn khỏe mạnh chưa bao giờ niệm Phật, cho nên chẳng dễ niệm liên tục lâu được. Cho đến giờ đây lấy niệm Phật làm việc chánh thì cũng hoàn toàn nhờ vào người khác trợ niệm thì mới có thể có sức. Vì vậy, quyến thuộc trong nhà nên cùng phát tâm hiếu thuận, từ bi, vì người ấy trợ niệm Phật hiệu. Nếu bịnh tình còn chưa đến nỗi sắp chết vào bất cứ lúc nào thì nên chia ban niệm Phật. Nên chia thành ba ban, mỗi ban hạn định mấy người. Ban đầu tiên niệm Phật ra tiếng, ban thứ hai và thứ ba niệm thầm. Niệm một tiếng đồng hồ thì ban thứ hai niệm tiếp; ban thứ nhất, ban thứ ba niệm thầm. Nếu có việc gì cần làm thì nên lo liệu trong lúc niệm thầm; còn trong lúc trực ban trọn chẳng nên bỏ đi. Ban thứ hai niệm xong, ban thứ ba niệm tiếp. Xong rồi lại trở lại từ đầu. Niệm một tiếng, nghỉ hai tiếng; [như vậy thì niệm] suốt cả ngày đêm thì cũng không mệt nhọc lắm. Phải biết là mình chịu giúp người đạt được Tịnh niệm vãng sanh thì mình cũng sẽ được hưởng báo có người trợ niệm. Chớ có nói là chỉ vì cha mẹ nên mới phải tận hiếu như vậy, mà đối với người dưng cũng phải nên vun bồi ruộng phước của mình, trưởng dưỡng thiện căn của mình thì mới đúng là cái đạo tự lợi, chẳng uổng làm người. Thành tựu một người được vãng sanh Tịnh Ðộ chính là thành tựu một chúng sanh làm Phật. Công đức thế ấy há nghĩ lường nổi ư!

Ba ban liên tục, tiếng niệm Phật chẳng ngớt. Nếu sức bịnh nhân niệm nổi thì nương vào đó mà niệm nho nhỏ theo. Chẳng niệm nổi thì lắng tai nghe kỹ, tâm không có niệm gì khác thì tự có thể tương ưng với Phật vậy. Tiếng niệm Phật chẳng nên quá to; to thời tổn hơi, khó niệm lâu được; cũng chẳng thể quá nhỏ khiến bịnh nhân chẳng nghe được rõ. Chẳng nên niệm quá mau, cũng chẳng nên quá chậm. Quá mau bịnh nhân niệm theo chẳng nổi mà nghe cũng chẳng rõ. Quá chậm thì chẳng tiếp hơi nổi nên cũng khó có ích. Nên niệm chẳng cao, chẳng thấp, chẳng rề rà, chẳng gấp gáp; từng chữ phân minh, từng câu rành mạch khiến từng chữ, từng câu lọt tai thấu dạ bịnh nhân; nhờ vậy mà họ có sức niệm.
Về pháp khí dùng cho việc niệm Phật, chỉ nên dùng dẫn khánh (6), còn các thứ khác đều chẳng nên dùng. Tiếng dẫn khánh trong trẻo khiến tấm lòng người nghe thanh tịnh. Tiếng mõ trầm đục chẳng thích hợp cho việc trợ niệm khi lâm chung. Thêm nữa, nên niệm bốn chữ Phật hiệu. Lúc bắt đầu thì niệm vài câu sáu chữ; rồi sau đó chỉ niệm bốn chữ A Di Ðà Phật, chẳng niệm Nam Mô. Do ít chữ dễ niệm nên bịnh nhân sẽ để tâm niệm theo hoặc nhiếp tâm lắng nghe, đều tốn ít tâm lực. Quyến thuộc trong nhà niệm như vậy mà thỉnh thiện hữu ở ngoài đến cũng niệm như vậy. Dù nhiều người hay ít người đều phải niệm như thế, chẳng nên niệm một chốc, lại nghỉ một chốc rồi mới lại niệm tiếp khiến bịnh nhân niệm Phật gián đoạn. Nếu ăn cơm thì nên ăn vào lúc thay phiên, đừng để tiếng niệm Phật gián đoạn.

Như lúc bịnh nhân sắp tắt hơi thì cả ba ban cùng niệm cho đến tận sau khi đã tắt hơi hẳn rồi mới lại chia ba ban niệm suốt ba tiếng đồng hồ nữa. Sau đấy, mới ngưng niệm để lo liệu, sắp đặt mọi việc. Trong lúc niệm Phật, chẳng để cho bè bạn đến trước bịnh nhân thăm hỏi, vỗ về. Ðã có lòng đến thăm thì hãy cùng đại chúng niệm Phật mấy thời. Ấy mới là tấm tình yêu mến chơn thật, có ích cho bịnh nhân. Còn nếu cứ theo thói tục thường tình thì chính là đã xô người xuống biển. Tình ấy tuy đáng cảm, nhưng [để xảy ra] sự ấy mới thật là đau đớn. Toàn là cậy vào người chủ chốt hiểu rõ đạo lý, bảo trước với người đến thăm để khỏi tổn thương tình cảm, lại tránh di hại cho bịnh nhân bị phân tâm mà chẳng được vãng sanh vậy.

c. Thứ ba là kiêng dè xáo động, khóc lóc để khỏi làm hỏng đại sự Lúc người sắp chết chính là lúc phân biệt giữa thánh phàm, người, quỷ, [tình trạng khác nào] ngàn cân [treo] đầu sợi tóc; cần phải hết sức cẩn thận, chỉ nên dùng Phật hiệu khai thị, dẫn dắt thần thức người ấy chứ chẳng nên tắm rửa, thay áo, hoặc dời chỗ nằm. Người ấy nằm như thế nào, cứ để yên người đó nằm trong tư thế ấy, chẳng nên có chút dời động. Cũng chẳng nên đối với việc ấy mà sanh bi cảm hoặc đến nỗi khóc lóc. Ấy là do khi đó [người chết] thân chẳng tự chủ được; mỗi một sự lay động là toàn thân lẫn chân tay đều bị đau đớn như bị cắt chặt, giằng xé. Hễ đau đớn thì sanh tâm sân hận nên tâm niệm Phật bị ngưng dứt. Do sanh tâm sân hận nên phần nhiều bị đọa vào độc loại, đáng sợ hãi thay. Nếu [người chết] thấy [thân quyến] buồn đau, khóc lóc thì tâm mến luyến phát sanh nên tâm niệm Phật cũng bị ngừng nghỉ. Vì mang tâm ái luyến mà ra đi nên đến nỗi đời đời, kiếp kiếp chẳng được giải thoát. Lúc ấy, điều có lợi nhất thì không chi bằng nhất tâm niệm Phật; điều tai hại nhất không chi bằng vọng động, khóc than. Nếu như vọng động, khóc than đến nỗi [người chết] sanh lòng sân hận cùng mến luyến thì có muốn sanh Tây phương, cả vạn trường hợp cũng chẳng được một.

Thêm nữa, người sắp chết hơi nóng rút dần từ dưới lên trên là tướng siêu sanh, còn hơi nóng từ trên rút xuống dưới là tướng đọa lạc. Vì vậy, có thuyết:

Ðảnh thánh, nhãn thiên sanh
Nhân tâm, ngạ quỷ phúc
Súc sanh tất cái ly,
Ðịa ngục cước phản xuất

Nhưng nếu cả nhà chí thành trợ niệm thì người chết ắt tự có thể sanh thẳng về Tây phương; chẳng nên rờ rẫm thăm dò khiến cho khi thần thức người chết chưa rời khỏi xác, nhân đấy bị đau đớn, tâm sanh phiền đau nên chẳng được vãng sanh. Lỗi họa ấy thật là vô lượng vô biên. Xin các thân hữu đều phải khẩn thiết niệm Phật, chẳng cần dò xem nóng lạnh ở chỗ nào. Làm con nên lưu tâm điều này mới là thật hiếu. Nếu cứ thuận theo các thói tục thế gian thì há chẳng phải là xô người thân xuống bể khổ chẳng thương xót gì chăng, chỉ cốt mong một lũ vô tri vô thức xúm lại khen mình đã có thể tận hiếu ư? Hiếu như vậy thì có khác chi là yêu mến la sát nữ. Kinh dạy: “La sát nữ ăn thịt người, bảo: ‘Vì ta yêu ngươi nên ăn thịt ngươi’. Kẻ vô tri hành hiếu khiến cho người thân mất vui được khổ, há chẳng phải là giống hệt cái tình yêu người của la sát nữ hay sao? Tôi nói ra lời này, chẳng phải là không đếm xỉa đến tình người mà chỉ là muốn cho ai nấy đều thấy rõ thực tế, đều mong cho người chết vãng sanh, kẻ sống được phước. Chỉ vì do đáp ứng tấm lòng chơn thành của con hiền, cháu thảo thương yêu người thân nên chẳng nệ lời lẽ dường như quá khích. Người thương yêu người thân thật sự khá nên lượng thứ cho.

Thuyết: Ðảnh thánh, nhãn sanh thiên... là nói về khi người đã tắt hơi, toàn thân đã lạnh, chỉ còn đảnh đầu nóng thì ắt đã siêu phàm nhập thánh, liễu sanh thoát tử. Nhãn sanh thiên là nếu mắt cùng trán còn nóng thì sanh trong thiên đạo. Chỗ ngực còn ấm thì sanh nhân đạo. Riêng bụng còn nóng thì sanh ngạ quỷ. Riêng đầu gối còn nóng thì sanh làm súc sanh. Riêng bàn chân còn nóng thì sanh địa ngục. Ðấy là do hai nghiệp thiện, ác đã tạo của người ấy lúc còn sống đến giờ đây cảm hiện như thế, chứ chẳng thể dựa vào thế lực nào để làm giả ra như vậy được. Khi đó, nếu bệnh nhân có thể chí thành niệm Phật, lại thêm sức của quyến thuộc và bạn lành trợ niệm sẽ quyết định có thể đới nghiệp vãng sanh, siêu phàm nhập thánh vậy. Chẳng cần phải để ý thử sờ xét nghiệm, đến nỗi làm hỏng việc. Mong mỏi lắm thay!


49. Lược giải về Tam Quy

Một là quy y Phật, hai là quy y Pháp, ba là quy y Tăng.
Quy là quay về, Y là nương gởi. Như người té xuống biển, chợt có thuyền đi tới bèn lội đến bên thuyền; đấy là ý nghĩa của chữ “quay về”. Lên thuyền ngồi yên là nghĩa “nương nhờ”. Sanh tử là biển, Tam Bảo là thuyền. Chúng sanh quy y liền lên bờ kia. Ðã quy y Phật, thờ Phật làm thầy thì từ nay trở đi cho đến lúc lâm chung, chẳng được quy y thiên ma, ngoại đạo, tà quỷ, tà thần. Ðã quy y Pháp, lấy Pháp làm thầy thì từ nay trở đi cho đến lúc lâm chung, chẳng được quy y kinh sách ngoại đạo (Pháp chính là kinh Phật và các pháp môn tu hành). Ðã quy y Tăng, thờ Tăng làm thầy thì từ nay trở đi cho đến lúc lâm chung, chẳng được quy y đồ chúng ngoại đạo.

Lại nữa, quy y Phật Pháp Tăng có cả lý lẫn sự. Sự chính là quy y mười phương tam thế hết thảy Phật, Pháp, Tăng vô tận Tam Bảo. Lý chính là quy y Phật nơi tự tánh, quy y Pháp nơi tự tánh, quy y Tăng nơi tự tánh. Phật là Giác, tức là Trí của tự tánh. Pháp là quy tắc, tức là Lý của tự tánh. Tăng là Hòa Hợp, tức là Lý và Trí khế hợp, nhất như bất nhị. Thêm nữa, Phật là Bát Nhã đức, Pháp là Pháp Thân đức, Tăng là Giải Thoát đức. Ba đức viên dung, trọn khắp pháp giới, chính là tự tánh vô tận Tam Bảo. Nguyện khắp pháp giới hữu tình đều quy y tự tánh vô tận Tam Bảo, cùng chứng tự tánh Di Ðà tam đức bí tạng. Nhưng nếu muốn chứng đắc tự tánh Di Ðà tam đức bí tạng mà chẳng nhờ đến sự tướng để sanh lòng tin, phát nguyện, niệm thánh hiệu Di Ðà, cầu sanh Tây phương thì chỉ sợ trải qua trần sa kiếp này đến trần sa kiếp khác vẫn cứ ở trong Sa Bà làm chúng sanh. Thiết tha mong người chấp lý bỏ sự hãy xét kỹ lẽ này.




Tiếp theo

Trở lại

Trở ra