22. Chống Kinh, trái Thánh

Ðạo của cổ nhân hễ đã tu chứng thì [thấy] là chẳng phải là không, nhưng nếu còn nhiễm ô thì chẳng đạt được. Như kinh Kim Cang Bát Nhã dạy: “Vô trụ tướng bố thí”, há nào có phải là chẳng cần tu bố thí thì mới là vô trụ tướng hay sao? Chỉ cốt sao cái tâm năng tu khế hợp lý Bát Nhã Chơn Không thì trọn ngày bố thí mà lìa hết thảy tướng; ấy mới là phá chấp vậy. Bàn thẳng về ly tướng, nói cùng tột về lý thì cũng chẳng chấp vào cái Ly Tướng mới đáng gọi là: “Ðối với cả hai thứ chấp trước và không chấp trước, hành nhân đều chẳng chấp trước vào thứ nào cả!” Do xứng tánh tu hành, lìa các kiến giải chấp Có, chấp Không của phàm phu và Nhị Thừa nên gọi là “vô trụ tướng” vậy. Phàm Bồ Tát tu hành lục độ, vạn hạnh, không vị nào chẳng đều như thế cả. Há phải đâu là cứ khơi khơi không tu rồi bảo là “chẳng trụ tướng” ư! Nay Vãng Sanh Tịnh Ðộ chính là một môn trong vạn hạnh của Bồ Tát, là một pháp để đi qua suốt mười phương thừa sự chư Phật vậy. Do xứng tánh tu hành nên hiểu rành rẽ hết thảy pháp đều là vô tướng. Vô tướng cũng là vô. Phàm đã như vậy thời với Tịnh Ðộ nào ngại vãng sanh, với đức Di Ðà nào ngại chi thân cận. Nương Phật nguyện lực nên mau chứng vô sanh. Nếu cứ chấp chặt rằng vô sanh, vô kiến mới là đạt lý thì sẽ đọa vào thiên kiến chấp không của Nhị Thừa, ngoại đạo. Công nhiên trái nghịch, chống Kinh, chê Thánh, còn tội nào lớn hơn nữa!


23. Vì nhỏ mất lớn

Sách Long Thư Tịnh Ðộ chép: “Nay có kẻ mua bán chỉ mong một tiền mà được hai tiền, người đi đường một ngày đi được đoạn đường bằng cả hai ngày thì tâm liền vui sướng. Không được như thế, tâm ắt buồn bực. Ðối với vật ngoài thân có chút được mất liền đã vui, buồn như thế; còn với tháng ngày hữu hạn của mình dần dà bị mất đi, tuy sự mất mát ấy thật lớn nhưng chẳng lấy làm lo. Cái duyên Tịnh Ðộ khó gặp nhưng ta may sao được biết đến, đấy chính là cái được lớn lao nhưng lại chẳng lấy làm vui. Chỉ thấy những cái được, mất nhỏ nhoi mà vui, buồn; còn với những cái được, mất lớn lao lại chẳng hề hay biết. Sao chẳng suy xét kỹ càng vậy!”


24. Mười điều mất mát nếu chẳng tu

Phật dạy pháp tu hành đường tắt khiến hết thảy chúng sanh mau siêu sanh tử; nhưng người chướng nặng chẳng chịu tấn tu thì sẽ chịu mười điều mất mát:

Một, chẳng tin lời Phật.

Hai, chẳng tuân Thánh giáo.

Ba, chẳng tin nhân quả.

Bốn chẳng trọng cái linh tâm của mình.

Năm, chẳng cầu tiến lên.

Sáu chẳng thân thiện hữu.

Bảy, chẳng cầu giải thoát.

Tám, cam chịu luân hồi.

Chín, chẳng sợ ác đạo.

Mười, cam làm loài ma.

Ngược lại, tu hành thì được mười thứ lợi ích thù thắng.


25. Vĩnh viễn không có ma sự

Sách Niệm Phật Chánh Tín Quyết của Thọ Thiền Sư có viết: “Hoặc có kẻ nói lúc lâm chung thấy Phật, phóng quang tiếp dẫn, đó đều là ma cảnh. Thuyết ấy như thế nào? Ðáp: Tu tập tam muội theo như kinh Thủ Lăng Nghiêm dạy thì có thể phát động ấm ma. Tu các thứ tam muội dạy trong Luận Ma Ha Diễn và sách (Ma Ha) Chỉ Quán v.v… sẽ có thể phát động ngoại ma. Ðấy là nói về những cách chuyên dùng tự lực để tu Thiền, vì ma chủng đã có sẵn từ trước bị Ðịnh thúc đẩy nên ma sự phát động. Nếu hiểu rõ được [ma cảnh] mà đối trị thì thành thánh pháp, còn nếu cứ mặc tình xuôi theo, chẳng hề hay biết thì sẽ bị chướng ngại. Nay ta tu Niệm Phật tam muội là nương vào sức đức Phật kia giống như gần gũi đế vương, kẻ nào dám phạm? Vả lại, đức Di Ðà có thệ nguyện đại từ bi, sức tam muội oai thần, có sức dẹp tà lớn lao, có sức hàng ma to lớn, thiên nhãn xa trông, thiên nhĩ vẳng nghe, tha tâm soi tột, quang minh chiếu khắp nhiếp thủ chúng sanh. Phật đã có sức công đức như vậy, lẽ nào chẳng hộ trì nổi người niệm Phật khiến cho lúc lâm chung chẳng bị chướng ngại hay sao? Còn các việc như kim đài đến đón… vốn phát xuất tự Quán kinh, do chính kim khẩu đã nói; nếu coi [những việc ấy] là ma thì thật là quá sức vô tri vậy!


26. Ba sức Ban Châu

Trong Hội Tông Tập của Viên Thông Phạm pháp sư có dẫn kinh Ban Châu Tam Muội như sau:

“Niệm Phật vãng sanh có ba thứ lực:

Một là Bổn Hữu Phật Tánh Lực, tức là nói trong tâm phiền não có Như Lai tạng vậy.

Hai là Từ Quang Nhiếp Thủ Lực, tức là nói Di Ðà quang minh vô lượng, nhiếp thủ chúng sanh niệm Phật chẳng bỏ.

Ba là Niệm Phật Tam Muội Lực, tức là nhớ Phật niệm Phật thì hiện tiền, tương lai nhất định thấy Phật”.


Ba thứ lực này như ba sợi dây hợp thành sợi thừng lớn, lôi được vật nặng. Lại như cái gương thủy hỏa, nếu đem hướng về mặt trời, chiếu lên cỏ khô thì lấy được lửa. Nếu đem hứng ánh sáng mặt trăng, dùng châu để hứng lấy [ở phía dưới gương] thì liền được nước. Cái gương có đủ tánh thủy, hỏa ấy giống như chúng sanh vốn sẵn đủ Phật tánh lực. Cần phải nhờ đến ánh sáng mặt trời, mặt trăng soi đến là ví cho từ quang nhiếp thủ của Phật Di Ðà vậy. Dùng cỏ, châu lấy được nước, lửa là ví cho sức tín tâm niệm Phật. Ba thứ này chẳng được thiếu một điều. Ba sự hòa hợp thì nước, lửa mới sanh; ba lực cùng hỗ trợ ắt sẽ sanh Tịnh Ðộ.




Tiếp theo

Trở lại