17. Mười niệm vãng sanh

Trong Thập Nghi Luận, có câu hỏi rằng: Vì sao chúng sanh nghiệp nặng, mà mười niệm liền được vãng sanh? Ðáp: Khi lâm chung gặp được thiện hữu đều là do thiện căn đời trước. Nếu không có túc nhân thì còn chẳng thể gặp được thiện tri thức, huống hồ là mười niệm thành tựu! Nếu coi vô thỉ ác nghiệp làm trọng, lâm chung mười niệm là khinh thì nay ta dùng ba thứ để so lường, chứ chẳng bàn đến thời gian [niệm Phật là] ít hay nhiều.

Một là tại tâm. Lúc tạo ác là từ hư vọng điên đảo mà sanh; khi niệm Phật là từ nơi thiện tri thức nghe danh hiệu công đức chơn thật của A Di Ðà Phật mà sanh. Một đằng hư, một đằng thật, há nào so sánh được ư? Ví như nhà tối vạn năm, ánh mặt trời vừa chiếu đến, há có vì bóng tối tích tụ đã lâu mà chẳng diệt nổi hay sao!

Hai là tại duyên. Lúc tạo tội là từ tâm si ám, duyên cảnh hư vọng mà sanh. Cái tâm niệm Phật từ việc nghe công đức danh hiệu của Phật, duyên tâm Vô Thượng Bồ Ðề mà sanh. Một đằng chơn, một đằng ngụy, há so sánh được ư! Ví như có người bị trúng tên độc. Tên lút sâu, độc ngấm đẫm, tổn da nát xương. Một khi nghe tiếng trống thuốc Diệt Trừ, tên liền rớt, độc liền trừ, há đâu phải vì tên đã lút sâu, độc đã ngấm mà chẳng thể lành hay sao?

Ba là tại quyết định. Lúc tạo tội là do cái tâm hữu gián hữu hậu. Khi niệm Phật, dùng cái tâm vô gián, vô lậu. Bởi thế, ngay vào lúc xả mạng: do thiện tâm mạnh mẽ nên bèn được vãng sanh. Ví như dây thừng quấn mười vòng, ngàn kẻ đàn ông chẳng làm gì nổi; đứa bé vung gươm, khoảnh khắc thừng bị đứt làm hai đoạn. Lại như củi chứa ngàn năm, dùng chút lửa to bằng hạt đậu, trong chốc lát củi cháy hết sạch. Lại như người cả một đời tu mười nghiệp lành ắt sẽ được sanh lên trời; nhưng lúc lâm chung nếu khởi một niệm tà kiến quyết định liền đọa vào A Tỳ địa ngục. Ác nghiệp dẫu hư vọng, nhưng vì nó mạnh mẽ nên còn khả năng xóa tan thiện nghiệp của cả một đời khiến [kẻ ấy bị] đọa đường ác. Huống hồ lúc lâm chung, tâm mạnh mẽ niệm Phật, tạo nghiệp lành một cách chơn thật vô gián mà chẳng xóa nổi vô thỉ ác nghiệp, được sanh về Tịnh Ðộ hay sao!


18. Ðặt tượng nơi trai phòng

Chỗ phàm phu nằm ngồi thường ngày chẳng nên đặt tượng Phật, Bồ Tát kẻo vướng lấy tội khinh nhờn. Pháp sư Trúc Am Quán thấy trai phòng của kẻ học giả bày tượng liền khuyên răn rằng: “Các ông đứng ngồi vô lễ, nói lời vô ích; sự cung kính đốt hương chốc lát chẳng bù nổi cái tội trọn ngày khinh mạn!”.

Ðại Thông Bổn thiền sư thấy tượng Phật, Bồ Tát đứng hoặc đi thì chẳng dám ngồi. Thức ăn chay mang tên thịt, cá, ngài chẳng hề ăn. Ngài chơn thành kính thờ, giữ gìn tâm rời tội lỗi đến mức như vậy. Trong (Bách Trượng Sắc Tu) Thanh Quy có răn thường nhân: “Chẳng phải lúc lễ bái, cúng dường, thắp thêm hương, thay nước thì vô cớ chẳng được vào điện đường; sợ giải đãi tổn phước, chiêu lấy tội vậy!” Nếu vì người lâm chung đang cơn bịnh khổ bức bách mà bày tượng niệm Phật nhằm tăng chánh niệm cho họ để giúp họ vãng sanh thì chẳng bị hạn cuộc bởi điều răn này.


19. Dùng lý đoạt sự

Lục Tổ Ðàn kinh chép: “Người Thiều Châu hỏi về pháp tu Tây phương, Lục Tổ dạy: ‘Tự tâm có Tây phương, kiếm Tây phương chỗ nào? Người Ðông phương tạo tội tác nghiệp cầu sanh Tây phương. Nếu người Tây phương tạo tội gây nghiệp thì cầu sanh chốn nào? Chỉ ngộ được tánh thì chỗ nào mà chẳng được?” Ngài Chí Công cũng nói: “Bậc trí biết tâm là Phật, kẻ ngu nguyện sanh Tây phương”. Lời của hai vị sư này đều là dùng lý đoạt sự, đều cùng là tùy bịnh cho thuốc. Nếu cứ chấp nê theo lời để hiểu thì là chấp thuốc thành bịnh vậy. Nếu chỉ căn cứ theo lý mà nói thời một pháp còn chẳng thể được, huống hồ là có Tịnh Ðộ để sanh! Chẳng riêng mình Tịnh Ðộ mà ngay cả tự tâm cũng còn chẳng thể được. Cái chẳng thể được này cũng bất khả đắc nốt. Nếu như vậy thì nói ‘tự tâm có Tây phương’ ‘biết tâm là Phật’ đều thành thừa thãi. Mà lý đây chính là cái lý tức sự, cái Không đây chính là cái Không tức Hữu. Chính ngay trong chỗ sạch trơn ấy phương ngại gì đến việc kiến lập các pháp để niệm Phật vãng sanh? Do sự chính là lý nên niệm nhưng vô niệm, sanh mà vô sanh; thế nên cứ thẳng bước trên đường rộng, chấp chi lời chết cứng. Người đời sau chẳng hiểu ý này, cứ một bề bám theo lời nói mà hiểu, hủy báng người tu Tịnh nghiệp. Khác nào đối với người đang ngồi thuyền vượt biển lại khuyên đi đường bộ, chẳng tương xứng cơ nghi, chỉ càng khiến tăng thêm hoặc loạn. Ngài Vĩnh Gia nói: “Bỏ có chấp không cũng là bịnh, khác nào để tránh chết đuối bèn đâm đầu vào lửa”. Có nên như thế chăng?


20. Bốn thứ tình chấp

Ðạo chẳng phải trong, ngoài; chẳng rời trong, ngoài. Ðạo tuyệt ta, người nhưng chẳng trở ngại gì đến ta lẫn người do muôn pháp đều đồng một thể vậy. Một chẳng nhất định là một, nào ngại chi vạn pháp khác biệt. Nếu hiểu rõ ý chỉ này, hễ hiểu rõ được một điều thì hết thảy mọi điều đều hiểu rõ. Muôn pháp đều là tự tánh của mình, không chỗ nào là chẳng đến được. Nếu có Phật để niệm thì là chấp tướng; nếu bảo không Phật để niệm thì lại càng chấp tướng nặng hơn.

Thử dùng tứ cú để luận, tức là [bốn câu]: ‘có Phật’, ‘không Phật’, ‘cũng có Phật cũng không Phật’ và ‘chẳng phải có Phật chẳng phải không Phật’ thành ra bốn thứ chấp. Hễ chấp lấy một thứ đều thành tà kiến. Nếu với bốn điều này dung thông vô ngại thì hễ chỉ quán một điều cũng thành tam muội vậy; [ở đây chỉ] nêu một điều đại diện cho các điều khác ngõ hầu [người nghe] lãnh hội được ý. Phật do nguyện lực rộng lớn khiến cho kẻ sơ tâm phàm phu một khi đã sanh về cõi kia thì vĩnh viễn chẳng thoái chuyển. Còn nếu ai chẳng chịu vãng sanh, cam chịu trầm luân thì chính là gã đang ở sát cạnh giỏ cơm mà đành chịu chết đói vậy. Tổ Ðạt Ma dạy: “Tâm như tường vách mới có thể nhập đạo” là để phá vọng tình phân biệt, cũng là tùy bịnh cho thuốc. Nếu muốn đạt ngay được vô tâm thì đúng là chấp thuốc thành bịnh. Tỳ kheo Thiện Tinh có thể giảng nổi mười hai bộ kinh, đắc quả Tứ Thiền, nhưng vì giao du với bạn tà nên nói xằng là không Phật, không Pháp, chẳng có Niết Bàn cho nên bị sanh hãm trong địa ngục; đấy đều là do vọng chấp pháp không, bác không nhân quả nên chiêu lấy cái quả báo dữ dội ấy. Người đời nay chẳng tuân lời Phật, chấp tà kiến là Ðại Thừa, báng Niệm Phật là Tiểu Thừa, thật đúng là phi pháp lại bảo là pháp, pháp nói là phi pháp; thoát nổi trọng tội Vô Gián được chăng?


21. Lẽ được mất của chuyện bàn suông về Không

Kinh nói: “Chư Phật nói pháp Không để độ kẻ chấp trước. Nếu lại chấp nơi Không, chư Phật chẳng độ nổi”. Giáo pháp của cả Ðại Tạng là tùy bịnh cho thuốc. Khéo dùng thuốc thì không bịnh chi chẳng hết; chẳng khéo dùng thì đề hồ thượng vị trở thành chất độc!

Tổ Bồ Ðề Ðạt Ma chẳng lập văn tự, chỉ đề xướng trực chỉ, bảo là Giáo Ngoại Biệt Truyền. Lục Tổ nói: “Chỉ hai chữ ‘chẳng lập’ ấy đã là văn tự. Bảo là Trực Chỉ chỉ vì do [người tu hành còn] hiểu cong vạy vậy”. Vì kẻ học pháp mà cổ nhân cạy niêm cởi trói, xóa ngờ phá chấp; công ấy không chi lớn hơn. Cần phải biết đạo lý như sau: Chẳng thể dùng hữu tâm để cầu. Chẳng thể dùng vô tâm để đắc. Chẳng thể dùng ngôn từ để tạo. Chẳng thể dùng tịch mặc để thông. Ðạt thẳng đến chỗ không nương dựa vào đâu, vượt khỏi ngoài sự suy nghĩ của phàm, thánh. Cũng chẳng nương dựa vào cái chỗ không nương dựa ấy, vượt khỏi chỗ suy lường của phàm, thánh thì mới đáng gọi là xuất cách đạo nhân. Kẻ học đạo đời sau cứ chấp trước ngang bướng, chẳng rõ ý Tổ, nhận lầm lời lẽ cổ nhân là thật, cho rằng thật sự có một pháp Giáo Ngoại Biệt Truyền, phải thẳng tay quét sạch văn tự, chấp chặt rằng chẳng còn có một pháp nào hết cả thì mới là cứu cánh, khăng khăng tính kế sống mãi trong dòng sanh tử. Ðối với các đạo khác, họ cũng đem [cái chấp] quét sạch ấy để quét sạch hết cả, nghinh ngang chẳng hay biết gì. Ôi! đáng thương thay! Riêng họ chẳng biết rằng: đoạn vọng tưởng tam giới, diệt ngũ ấm sắc thân, trọn chẳng vướng bận dẫu mảy may nào lại chính là kiến giải của Tiểu Thừa đối với Tam Tạng. Nếu hiểu được [như thế] thì sẽ chuyển mình, tự nhiên mọi pháp dung thông, đi trên đường sanh tử chẳng trở ngại gì; tuân theo thánh giáo của Phật, phát nguyện vãng sanh, tham lễ Di Ðà, thân cận thiện hữu, mau chứng bất thoái, phổ độ chúng sanh. Sánh với kẻ thiên chấp Không kiến, cam chịu luân hồi, chẳng cầu xuất ly, lẽ tiêu hoại chẳng đồng vậy.




Tiếp theo

Trở lại

Trở ra