Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao

Quyển thứ ba

(Phần 3)

 

 

49. Lời tựa sách Phó Đại Sĩ Truyện Lục

Nhất niệm tâm tánh của chúng sanh và chư Phật không hai. Tuy đang mê bất giác, khởi Hoặc tạo nghiệp, tạo đủ mọi tội, nhưng Phật tánh sẵn có vốn không tổn thất. Ví như Ma Ni bảo châu rớt trong nhà xí, trọn chẳng khác gì vật dơ, người ngu chẳng biết là quý báu, bèn coi như uế vật. Người trí biết là diệu bảo vô giá, chẳng hiềm ô uế, vào trong nhà xí nhặt lấy, dùng đủ mọi phương cách gột rửa cho sạch. Sau đấy, treo trên tràng[1] cao, châu liền phóng đại quang minh, tùy theo lòng mong cầu của con người mưa khắp các thứ báu. Do vậy, người ngu mới biết là quý báu.

Đại Giác Thế Tôn xem các chúng sanh cũng giống như thế: dẫu là kẻ hôn mê, điên đảo, phiền hoặc, tạo đủ Ngũ Nghịch, Thập Ác, vĩnh viễn đọa trong ba ác đạo, tâm Phật vẫn chẳng hề có một niệm buông bỏ, luôn tìm cơ duyên, gia bị âm thầm hoặc hiển nhiên, vì họ thuyết pháp ngõ hầu họ hiểu rõ Hoặc nghiệp huyễn vọng, ngộ Phật tánh chân thường, cho đến khi viên chứng Vô Thượng Bồ Đề mới thôi! Đối với người tội ác cực nặng còn như thế, thì đối với người nghiệp nhẹ, người giữ giới thiện, có đầy đủ sức Thiền Định sâu, không một ai chẳng được đối xử như vậy. Phàm trong tam giới, có những người tuy đã thâu liễm được thân tâm, khuất phục được các phiền hoặc, nhưng tình chủng vẫn còn, phước báo một khi đã hết liền đọa xuống cõi dưới, gặp cảnh chạm duyên vẫn khởi Hoặc tạo nghiệp, do nghiệp cảm khổ, luân hồi sáu nẻo, trọn chẳng có lúc nào ngưng; cho nên kinh Pháp Hoa nói: “Ba cõi không yên ví như nhà cháy. Các khổ đầy dẫy, thật đáng kinh sợ”.Nếu không phải là nghiệp tận tình không, đoạn Hoặc chứng chân thì chẳng mong chi thoát khỏi tam giới. Chỉ có mỗi một mình pháp môn Tịnh Độ chỉ cần có đủ lòng tin chân thật, nguyện thiết tha, trì danh hiệu Phật liền có thể nhờ vào Phật từ lực vãng sanh Tây Phương. Đã được vãng sanh bèn nhập cảnh giới Phật, thọ dụng như Phật, hai thứ phàm tình lẫn thánh kiến đều chẳng sanh. Chính là pháp môn đặc biệt ngàn vạn phần ổn thỏa, thích đáng, chẳng sót một ai vậy; đang thời Mạt Pháp, bỏ pháp này thì không còn cách gì khác nữa.

Như Lai dùng tự lực - tha lực, hai thứ pháp môn thông thường và đặc biệt để lợi khắp hết thảy. Bồ Tát gánh vác gia nghiệp của Phật, chỉ chuyên chú thượng cầu hạ hóa. Do vậy, tùy loại hiện thân trong pháp giới mười phương, tùy cơ thuyết pháp, hòa quang đồng sự mới dẫn dắt được. Hoặc ẩn, hoặc hiển, trọn không có tướng nhất định! Có những vị bên trong ẩn thánh đức, bề ngoài hiện dáng vẻ lạ lùng, như: Phật Di Đà hóa làm Thiện Đạo, Phong Can[2]; Quán Âm hóa làm Bảo Chí[3], Tăng Già[4]; Văn Thù, Phổ Hiền hóa thành Hàn Sơn, Thập Đắc[5]; Di Lặc hóa thành Bố Đại hòa thượng. Ngôn hạnh của họ phàm tình chẳng thể lường được, mờ mịt chẳng biết họ là hạng người như thế nào! Đến lúc lâm chung mới phát lộ, hoặc do chết đi, khám nghiệm mới biết rõ được! Cũng có vị vừa ẩn vừa hiển, chỉ bày rõ cả Bổn lẫn Tích, như Di Lặc hóa thành Phó Đại Sĩ vậy. Có lúc Ngài dựa theo Tích, ẩn Bổn, tự bảo mình là phàm phu. Có lúc dựa theo Bổn, ẩn Tích, như tự xưng là Di Lặc. Ấy là vì tâm lượng của chúng sanh quá hẹp nhỏ, nếu chẳng phải là kẻ có chút sở đắc bèn lầm tưởng mình đã dự vào hàng thánh thì cũng là kẻ đề cao thánh cảnh, nhưng cam phận phàm ngu! Do vậy, Đại Sĩ lấy thân mình làm gương, khiến cho họ biết Ngài đã chứng Đẳng Giác nhưng vẫn tự bảo là phàm phu thì những kẻ lầm lạc tự tưởng mình cao quý cũng như kẻ cam phận phàm ngu đều được tỉnh ngộ mạnh mẽ.

Những chuyện Đại Sĩ đã làm, những pháp Ngài nói trong suốt một đời tuy đều trực chỉ hướng thượng, nhưng vẫn chẳng bỏ sót một điều lành nào. Lục Độ đều tu, chẳng chấp một pháp. Còn như những vị đệ tử học pháp với Ngài, không ai chẳng khế nhập chân thường sâu xa, nhanh chóng hiểu Uẩn, Giới là không, bỏ thân mạng, của cải để làm đại pháp thí. Vì thế, đạo lừng lẫy cả hai triều, đức đượm đời sau. Mãi đến ngày nay, cả một ngàn mấy trăm năm, bất cứ ai thấy nghe đều gieo thiện căn. Chùa Song Lâm ở Nghĩa Ô[6] chính là nơi Đại Sĩ tiềm tu, hãy còn bản khắc ván truyện lục, tuy được sao chép, in khắc nhiều lần, nhưng chưa từng được người mắt sáng giảo đính đến nỗi sai ngoa không biết bao nhiêu mà kể!

Cư sĩ Tôn Ngọc Tiên ở Phụng Hóa đến Song Lâm lễ yết Đại Sĩ, mang về sách ấy, liền muốn in lại để truyền rộng đạo của Đại Sĩ, xin Quang giảo đính ngõ hầu trừ hết những lỗi tệ, hiển hiện trọn vẹn thiên chân. Quang gắng dốc hết lòng ngu thành, lắng lòng giảo đính, sửa chữa. Tuy chưa thể chẳng sót lỗi nào, nhưng đã có thể hoàn lại diện mục sẵn có của sách ấy rồi. Ngọc Tiên lại cho rằng bi ký của Đại Sĩ văn sâu nghĩa thẳm, nếu không chú thích thật khó dẫn người nhập vào chỗ thù thắng, khơi gợi lòng kính ngưỡng cho người khác, bèn xin cư sĩ Hoàng Vô Ngôn chú thích cặn kẽ, ngõ hầu dù văn hay nghĩa đều [rõ ràng] như các đường chỉ trong lòng bàn tay để người đọc chẳng tốn công suy nghĩ, tìm tòi, đều biết được sự - lý, bổn - tích của Đại Sĩ, để làm hướng dẫn hầu được độ thoát trong ba hội Long Hoa[7] vậy.

50. Lời tựa khắc lại cuốn Quán Hà Tập

Tâm chính là gốc của các pháp thế gian và xuất thế gian. Nếu triệt ngộ tự tâm thì thấy hết thảy pháp đều lưu lộ từ tự tâm, thấy hết thảy những cảnh giới biến diệt, đổi dời đều là Thật Tướng Chân Như tịch diệt thường trụ. Kinh Lăng Nghiêm có nói đến chuyện thấy con sông chẳng phân biệt trẻ - già[8], ngài Tăng Triệu nói “gió lốc xoáy núi nhưng núi bất động, sông rạch chen nhau rót vào nhưng [núi] chẳng bị cuốn đi”, đều nhằm chỉ bày ý chỉ nhỏ nhiệm “từ ngay nơi sanh diệt thấy được chân thường” vậy! Nếu hiểu được điều này thì có thể gọi là hạng phàm phu đã liễu sự, là người tu đạt được cái gốc. Dẫu cho cười chê, hay nóng giận, chửi bới đều có thể tháo niêm cởi trói cho người, khiến người ta khởi tử hồi sanh; cần gì phải lên tòa giảng nghĩa mới là thuyết pháp ư? Khổng Tử nói: “Hai ba người các anh cho là ta có giấu diếm gì chăng? Ta không giấu gì cả! Ta không làm chuyện gì mà chẳng chỉ dạy hai ba anh cả, đấy chính là bản tánh của Khâu này!”[9]

Đạo của thánh nhân ví như ánh dương xuân. Ánh dương xuân chiếu xuống thì cây to, cỏ nhỏ không gì chẳng sum suê, tốt tươi. Dẫu cho mầm cháy, hạt hư chẳng thể sanh thành, nhưng cũng chưa từng không được hưởng sự ấm áp để được nhuận trạch vậy! Người căn tánh thiên bẩm sâu xa thấy những điều cao dày trước sau chẳng thể mô phỏng, rộng lớn tinh vi, chẳng thể nghĩ lường, thật ra chẳng có gì lạ lùng, đặc biệt, chẳng qua chỉ là những chuyện nói năng, xử sự hằng ngày mà thôi. Tâm này mầu nhiệm, phàm - thánh giống nhau, Như Lai viên mãn Bồ Đề, chúng sanh vĩnh viễn luân hồi trong lục đạo, đều chẳng lìa khỏi tâm này. Chỉ do nhân duyên mê - ngộ, nghịch - thuận mà đến nỗi khổ - vui, thăng - trầm khác nhau như trời với vực.

Cư sĩ Bành Tế Thanh ở Trường Châu[10] túc căn sâu dầy, học vấn uyên bác, vừa đậu Tiến Sĩ bèn ngộ khổ, không, thấy phú quý như mây nổi, chẳng thích làm quan, thấu hiểu thật tế của tâm tánh bèn tận lực tu Tịnh nghiệp, hết sức muốn phổ độ kẻ mê bèn hòa quang đồng sự, cho nên có những trước tác tự thuật bổn hoài, kỷ sự[11], xướng họa, tuy thuộc văn tự, nhưng quả thực chứa đựng nỗi lòng sâu xa. Ý niệm yên đời, làm cho dân chúng lương thiện, hướng dẫn kẻ mê, tuyên nói lẽ chân được lộ rõ trong những lúc ngâm vịnh tùy dịp, tùy cảnh. Có thể nói: “Chẳng có địa vị mà thực hiện việc cai trị, chẳng lên tòa mà thuyết pháp” vậy! Thâu thập những trước tác, chia thành bốn quyển, đặt tên là Quán Hà Tập. Ấy chính là lấy từ ý nghĩa “từ việc nhìn con sông, nghiệm ra cái Thấy chẳng thay đổi” của kinh Lăng Nghiêm vậy. Lại mong những ai xem tập sách này chớ suy lường nơi nghĩa lý văn tự, chỉ nên nhìn vào sự quán. Quán đã thấu tỏ thì sông chẳng thay đổi! Đấy chính là ý nghĩa tổng quát của cái tên ông Bành đã đặt.

Ông Lưu Triều Thị thấy sách này có ích cho đời, bèn in khắc lưu thông, thật là nghĩa cử thù thắng tạo phương tiện dẫn dạy vậy. Ông nhờ tôi viết lời tựa. Tôi mong những ai xem đến thơ ông Bành thì trước hết sẽ học theo đạo của ông Bành, đạo ấy ra sao? Là diệu ngộ tự tâm, tín nguyện niệm Phật, cầu sanh Tây Phương mà thôi! Nếu lãnh ngộ được điều này thì mười phương thế giới sâm la vạn tượng đều hiện thành bài thơ mới. Nếu không, dẫu cho thanh vận véo von, câu chữ đối nhau khít khao, vẫn chẳng có mảy may nguyên khí nào. Như gương vẽ trên vách, như hoa cắt từ lụa, hình tạm cho là giống, nhưng muốn cho nó hiện tướng sáng, tỏa mùi thơm thì nhất quyết chẳng thể được!

51. Lời tựa lưu thông bản thạch ấn Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh

Bản thể của Pháp Thân hoàn toàn rời khỏi danh tướng, chân cảnh Tịch Quang chẳng thuộc Căn - Trần, chẳng phải có, chẳng phải không, Ngũ Nhãn[12] chẳng thể thấy được, chẳng phải tâm, chẳng phải sắc, Tứ Trí[13] lấy gì để tuyên nói. Tịch - chiếu trống rỗng, thông suốt, Chân Như tịnh diệu; vạn đức trọn đủ, không pháp gì chẳng hiển hiện. Phật thường trụ nơi thanh tịnh còn chẳng thể diễn nói, chúng sanh luân hồi trong nhơ uế há lập được ư? Đây thật sự là lý thể sẵn có của chúng sanh và Phật, là nguồn pháp của Vô Thượng Bồ Đề vậy. Lý này chúng sanh và Phật bình đẳng, không có cao - thấp. Nhưng do chúng sanh đang mê, tuy sử dụng thường ngày nhưng chẳng biết, tuy có đủ Pháp Thân lại lầm lạc chịu sanh tử, tuy ở trong Tịch Quang, lại lầm thấy là uế ác. Do vậy, Như Lai rủ lòng Từ rộng nói các kinh, khiến cho khắp hết thảy chúng sanh phản vọng quy chân, khôi phục tâm tánh vốn có.

Nhưng tự lực đoạn Hoặc, chứng đạo trong đời này thì hàng trung hạ căn không cách gì thành tựu được. Do vậy, có bậc đại sĩ tên là A Xà Thế, vận lòng đại từ bi, muốn cho đức Phật khai thị đại pháp môn đặc biệt, lạ lùng chẳng thể nghĩ bàn là pháp “cậy vào Phật từ lực, bỏ uế lấy tịnh, khiến cho khắp những căn thượng trung hạ đều được lâm chung vãng sanh”; cho nên Ngài đặc biệt thị hiện hạnh xấu ác, làm chuyện đại ác nghịch: giam cha, nhốt mẹ để làm duyên phát khởi, ngõ hầu mẹ Ngài là bà Vi Đề Hy thỉnh Phật giáng lâm, nguyện lìa Sa Bà, nguyện sanh Tịnh Độ. Khi ấy, đức Thế Tôn phóng hào quang từ giữa chặn mày, hiện đủ mọi cõi Phật tịnh diệu. Bà mẹ chỉ nguyện sanh về cõi Cực Lạc, lại thỉnh cầu phương pháp để giúp chúng sanh được sanh về cõi ấy. Bởi thế, đức Như Lai nói ra mười sáu phép diệu quán y báo, chánh báo, những ai có thể y theo lời dạy tu hành, không một ai chẳng được mãn nguyện. Chẳng những thiện nhân được như thế, dù là kẻ Ngũ Nghịch, Thập Ác, lúc lâm chung tướng địa ngục hiện, được tri thức dạy niệm danh hiệu Phật hoặc đủ mười tiếng hoặc chỉ một tiếng cũng được nhờ Phật từ lực đới nghiệp vãng sanh. Thật có thể nói là ống thổi lò lớn (ống bễ trong lò rèn) để chuyển phàm thành thánh, là đại pháp môn phô bày bổn hoài của Phật, có lực dụng vượt trội mọi giáo pháp trong cả một đời đức Phật.

Nếu Như Lai chẳng mở ra pháp này thì bao nhiêu chúng sanh trong đời Mạt Pháp ai có thể thoát lìa được biển khổ? Do vậy, biết Thích Ca, Di Đà nương đại nguyện luân, khởi lòng Từ vận tâm Bi độ thoát chúng sanh. Một vị thị hiện sống trong cõi uế, dùng uế, dùng khổ để chiết phục, đưa đi; một vị thị hiện sống trong cõi tịnh, lấy tịnh, lấy vui để nhiếp thọ, un đúc; còn vua A Xà Thế giúp sức tán trợ, riêng hiện tướng ác nghịch hòng thành tựu lòng chán lìa; cùng với đức Thế Tôn hai cõi, đe và búa thành toàn cho nhau[14]. Một nghịch, một thuận, là hóa nghi (phương thức giáo hóa) rốt ráo để chúng sanh đời Mạt rốt ráo đắc độ. Lợi ích ấy khó thể tán dương trọn hết. Làm chuyện phi đạo nhưng thông đạt Phật pháp, nếu chẳng phải là bậc đã chứng Pháp Thân từ lâu, ai có thể làm được?

Kinh này lấy “tâm này làm Phật, tâm này là Phật, chúng sanh và Phật rốt ráo chẳng hai” làm Thể. Nếu ai có thể tin tưởng ngay nơi đây thì người ấy tuy chưa ra khỏi Sa Bà nhưng đã không còn là khách trọ lâu ngày trong Sa Bà nữa, chưa sanh về Cực Lạc mà đã là khách quý của Cực Lạc. Cư sĩ Trí Hải Lưu Triều Thị xưa có linh căn, dốc sức tu Tịnh nghiệp, nhân đọc kinh này, động lòng hiếu thuận, nghĩ mẹ mình là bà phu nhân họ Trương thủ tiết nuôi con côi, thờ bố mẹ chồng trọn hiếu, đức sáng nữ giới, làm gương cho hàng khuê các. Bà cụ dốc lòng tin nhân quả, giữ Thập Trai lâu ngày, chánh nhân Tịnh nghiệp đã khá đầy đủ, tiếc là sanh lòng tin phát nguyện chuyên trì Phật hiệu để cầu vãng sanh chưa đến mức dốc hết sức lực. Do vậy, ông Lưu bèn phát tâm lưu truyền kinh này.

Cư sĩ Đào Ngọc Canh bút pháp siêu diệu, có thể bén gót họ Chung, họ Vương[15]; nhân đó, bèn nhờ ông ta cung kính viết kinh để in thạch ấn thí tặng, khiến cho khắp mọi người thấy nghe cùng gieo tịnh nhân. Do công đức này khiến cho thần thức của mẹ được siêu tịnh vực, nghiệp từ tạ trần lao, sen chín phẩm nở hoa, Phật thọ ký ngay trong một đời. Phải biết kinh này và hai kinh A Di Đà, kinh Vô Lượng Thọ chính là pháp môn được đặc biệt lập ngoài những giáo lý thông thường trong cả một đời giáo hóa của Như Lai, như thuốc A Già Đà trị đủ vạn bệnh. Vì thế, bất luận nghiệp nặng hay nhẹ, Hoặc (phiền não) dầy hay mỏng, chỉ cần tín nguyện niệm Phật thì không một ai chẳng được vãng sanh, như châu Ma Ni tùy ý tuôn các báu. Do vậy, chỉ cần nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối, đợi đến khi nghiệp tận tình không, tâm lẫn Phật cùng mất thì hết thảy pháp môn, hà sa diệu nghĩa không gì chẳng dung hội, quán thông nơi tự tâm. Pháp môn Tịnh Độ mầu nhiệm như thế đó! Những ai trên muốn siêu độ những bậc trưởng thượng đã mất, dưới tế độ mọi phẩm, khiến cho hết thảy mọi người chẳng phế bổn phận, chức nghiệp, ai nấy được thoát ly sanh tử luân hồi ngay trong đời này thì sao không gấp gáp theo đuổi pháp môn này?

52. Lời tựa cho Phật Quang Nguyệt Báo

Phật Quang là Trí Thể sẵn có ngay trong tự tâm của phàm - thánh, chúng sanh và Phật trong mười pháp giới. Thể ấy linh minh đỗng triệt, trạm tịch thường hằng, bất sanh, bất diệt, vô thủy, vô chung, dọc thì suốt khắp ba đời nhưng ba đời do đây dứt bặt, ngang thì trọn khắp mười phương nhưng mười phương do đây tiêu mất. Được gọi là Không nhưng vạn đức trọn bày. Gọi là Có nhưng mảy trần chẳng lập. Chính là hết thảy pháp, nhưng lìa hết thảy tướng, tại phàm chẳng giảm, nơi thánh chẳng tăng. Tuy Ngũ Nhãn chẳng thể thấy được, Tứ Biện[16] chẳng thể tuyên thuyết, nhưng pháp gì cũng phải nhờ vào sức nó, đâu đâu cũng gặp gỡ. Chỉ vì chúng sanh chưa ngộ nên chẳng những không thể thọ dụng được, trái lại còn nương theo sức chẳng thể nghĩ bàn này để khởi Hoặc tạo nghiệp. Do nghiệp chuốc khổ, khiến phải sanh tử luân hồi trọn chẳng khi nào hết. Đem chân tâm thường trụ thọ lấy huyễn báo sanh diệt, ví như người say thấy nhà xoay, nhà thật sự chẳng xoay. Kẻ mê cho là phương hướng chuyển dời, phương hướng quả thật chẳng động. Hoàn toàn do vọng nghiệp biến hiện, trọn chẳng có thật pháp nào để đạt được!

Do vậy, khi đức Thích Ca Thế Tôn ta thị hiện thành Phật đạo, triệt chứng Phật quang, bèn than: “Lạ thay! Lạ thay! Hết thảy chúng sanh đều đầy đủ trí huệ, đức tướng của Như Lai nhưng do vọng tưởng, chấp trước nên chẳng thể chứng đắc. Nếu lìa vọng tưởng, chấp trước thì Nhất Thiết Trí, Tự Nhiên Trí, Vô Ngại Trí đều được hiện tiền”. Kinh Lăng Nghiêm nói: “Diệu tánh viên minh lìa các danh tướng, vốn chẳng có thế giới, chúng sanh. Do vọng nên có sanh, do sanh nên có diệt. “Sanh - diệt” gọi là Vọng. Diệt vọng gọi là Chân. Đấy gọi là Vô Thượng Bồ Đề và Đại Niết Bàn của Như Lai”. Hai thứ danh hiệu này được dùng thay cho nhau. Ngài Bàn Sơn[17] nói: “Tâm nguyệt riêng tròn, ánh sáng phủ trùm muôn hình tượng. Ánh sáng không chiếu cảnh, cảnh cũng chẳng còn. Tâm - cảnh đều mất, nào còn có vật gì?” Ngài Quy Sơn nói: “Linh quang riêng chiếu, thoát khỏi Căn Trần. Thể lộ chân thường, chẳng chấp vào văn tự. Tâm tánh vô nhiễm, vốn tự viên thành. Chỉ lìa vọng niệm chính là Như Như Phật”.

Do vậy, biết: Mọi thứ ngôn giáo của Phật, Tổ, không gì chẳng nhằm chỉ bày tâm tánh sẵn có của chúng sanh, khiến cho họ bỏ mê về ngộ, khôi phục cái nguồn, hoàn lại cái cội mà thôi! Nhưng chúng sanh căn cơ có cạn - sâu, mê có dầy - mỏng, chẳng nhờ vào đủ mọi ngôn giáo chỉ dạy, đủ mọi pháp môn đối trị thì mây mê ngăn chướng tánh không, biết nhờ vào đâu để mỗi người đều thấy thấu suốt vầng tâm nguyệt cho được? Do vậy, lúc đức Như Lai mới thành đạo diễn giảng kinh Đại Hoa Nghiêm, liền bàn thẳng vào đại pháp vượt ngoài pháp giới, chẳng phải là pháp mà hàng Quyền - Tiểu có thể dự phần được, ngõ hầu những hàng đại căn cơ túc căn đã chín muồi cùng được chứng chân thường, sanh lên ngay bờ giác. Lại vì hàng độn căn chúng sanh chưa được lợi ích, Phật bèn dần dần khéo léo khuyên dụ, tùy thuận căn cơ diễn thuyết: Hoặc dùng Ngũ Giới, Thập Thiện đưa họ vào hai thừa Nhân - Thiên khiến cho họ gieo nhân thù thắng tiến vào Phật đạo, hoặc dùng Tứ Đế, Thập Nhị Nhân Duyên, Lục Độ vạn hạnh đưa vào ba thừa Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát khiến cho họ có được cận duyên chứng Phật đạo. Bắt đầu từ thời A Hàm cho đến thời Bát Nhã, không thời nào chẳng thuận theo căn tánh để tuyên nói khiến cho chúng sanh dần dần tiến lên, theo đường về nhà, nhưng bản hoài của Phật vẫn còn ẩn kín chưa nói. Đến hội Pháp Hoa, khai Quyền hiển Thật, khai Tích hiển Bổn, Nhân - Thiên - Quyền - Tiểu đều là Nhất Thừa. Người khách coi mình là kẻ hèn, thật sự là con ông trưởng giả. Thọ ký cho khắp ba căn, phô bày thông suốt lớn lao bổn hoài, cùng với hội Hoa Nghiêm ban đầu, đầu và cuối soi rọi lẫn nhau. Có thể nói là “một đại sự nhân duyên đã được giao phó toàn thể, trọn chẳng còn giấu diếm điều gì!” Lại do chúng sanh đời Mạt căn cơ kém hèn, việc đoạn Hoặc chứng Chân thật hiếm có người. Do vậy, đặc biệt mở ra một môn Tịnh Độ, để thượng - trung - hạ căn dù thánh hay phàm đều cùng trong một đời này thoát khỏi Sa Bà sanh sang Cực Lạc, dần dần chứng được quang minh thọ mạng vô lượng. Lòng từ bi sâu xa lớn lao ấy thật là cùng cực không còn gì hơn được nữa!

Đến khi đại giáo truyền sang Đông, bậc đại sĩ hoằng pháp ai nấy chuyên chú một môn, hoặc Thiền, hoặc Giảng, hoặc Luật, hoặc Mật, như bốn cửa thành gần cửa nào bèn vào cửa nấy. Như vạn món thuốc, thuốc nào trị đúng bệnh bèn uống. Như những chức vụ trong các ty thuộc các bộ, giúp đỡ nhau hoàn thành công việc hành chánh. Như sáu căn hỗ trợ nhau, phụ trợ cho một thân. Tuy mỗi người đề cao một pháp, nhưng thật ra pháp nào cũng đều thông, pháp nào cũng đều trọn vẹn; chẳng qua từ chỗ thực hành mà nói thì mới có những tên gọi như vậy. Còn như một pháp Tịnh Độ thì giống như thuốc A Già Đà trị chung vạn bệnh, như Ma Ni bảo châu tùy ý tuôn các thứ báu. Nếu có thể thâu nhiếp sáu căn, tịnh niệm tiếp nối, sẽ đắc Tam Ma Địa, tự chứng Viên Thông, hết thảy công đức, hà sa diệu nghĩa, chẳng nhọc lòng cầu bên ngoài, đều hiện nơi tự tâm. Đó là vì dùng Quả Địa Giác (sự giác ngộ nơi chứng quả) làm Nhân Địa Tâm (cái tâm khi tu nhân); đến mức cùng cực thì Nhân trùm biển Quả, Quả thấu tột nguồn Nhân. Sự mầu nhiệm của pháp môn này dù hết cả kiếp vẫn khó tuyên thuyết, ai gặp được thì còn may mắn nào hơn?

Hòa thượng Khả Đoan chùa Trường Sanh ở Duy Dương xưa đã trồng cội đức, tham cứu Thiền - Giảng đã lâu. Năm Dân Quốc thứ tám (1919), do sư Tánh Liên thoái ẩn, giao cho hòa thượng làm Trụ Trì. Nhân đó, nghĩ kinh Hoa Nghiêm chính là căn bản pháp luân của Như Lai, bèn tận lực diễn giảng, ngõ hầu hết thảy chúng sanh dù u hay hiển[18], đều cùng phát khởi thiện căn Nhất Thừa. Phải mất cả ba năm mới giảng hết bộ kinh, nhưng hàng cư sĩ hộ pháp cảm lòng chí thành của Sư, lại xin tiếp tục giảng hòng bồi dưỡng nhân tài. Nhân đấy, Sư mở Hoa Nghiêm đại học viện, hạn định số học sinh là bốn mươi tám người. Lại nghĩ đoạn quang minh chẳng thể nghĩ bàn này chiếu khắp pháp giới, cố nhiên là do sức thần thông đạo lực, là phước huệ trang nghiêm của Như Lai, nhưng quang minh này ai nấy đều có, chẳng ai là không. Tuy vậy, [giống như] hạt châu trong chéo áo, tượng trong khuôn, người hiểu được Bổn tuy có, nhưng kẻ chấp vào Tích thật nhiều. Nỡ nào để cho những người cùng có quang minh này phần nhiều ở mãi trong nhà tối, chẳng thụ dụng được; trái lại, còn biến ánh sáng chân thường viên mãn chiếu khắp pháp giới chẳng thể nghĩ bàn này thành cội gốc để kết nghiệp sanh tử ư?

Do vậy, Sư tính mỗi tháng ra một lần báo, đặt tên là Phật Quang. Do nhất niệm tâm tánh, Phật như, chúng sanh như, nhất như, vô nhị như[19], nên phàm là nhân duyên ban bố giáo hóa của Như Lai, thật tế của tâm tánh chân thường, nhân quả, Ngũ Giới, Thập Thiện, sự cảm ứng của việc kiêng giết, phóng sanh, thiện hạnh thế gian, Tịnh nghiệp xuất thế, nỗi khổ luân hồi sanh tử, báo ứng nhân quả nhỏ nhiệm, cũng như lời hay hạnh đẹp, trước thuật, bài giảng của bậc cao nhân triết sĩ đều được tùy duyên ghi chép để giúp cho [người đọc] quán cảm. Tuy là Chân - Tục cùng diễn nói, nhưng sâu - cạn đều đầy đủ, lời thô lẽ tế đều quy về Đệ Nhất Nghĩa. Do vậy, người nhân trông thấy cho là Nhân, người trí trông thấy cho là Trí, lấy đó làm hướng dẫn ban đầu để bước vào cảnh giới Phật, là duyên thù thắng để mở rộng tâm quang.

Nếu người đọc biết được tự tâm vốn là Phật tâm, liền biết Phật quang chính là tâm quang. Nhưng tâm quang này tịch - chiếu viên dung, tịch nhưng thường chiếu, nên là vô lượng quang; chiếu nhưng thường tịch nên là vô lượng thọ. Lý thể của vô lượng quang thọ hết thảy mọi người đều có. Muốn thật sự chứng vô lượng quang thọ thì phải đợi đến khi vãng sanh Tây Phương gặp mặt Di Đà, được Phật thọ ký, viên mãn Bồ Đề xong rồi mới đạt được triệt để. Đây chính là ý chỉ sâu xa của chỗ quy tông kinh Hoa Nghiêm “dùng mười đại nguyện vương dẫn về Cực Lạc”. Phàm những ai cùng hàng với tôi, đã được may mắn hãy nên tin tưởng chắc thật.

53. Lời tựa quyên mộ tu sửa tháp viện của Vân Cốc thiền sư

Cao Tăng đắc đạo vào thuở xa xưa, đến một ngàn mấy trăm năm sau, nếu có ai trông thấy tượng Ngài, hoặc đọc trước thuật, đi qua những nơi Ngài đã lưu ngụ, chiêm ngưỡng ngôi tháp đóng kín, đều có thể khiến cho người ấy sanh lòng hổ thẹn, sanh tâm kính ngưỡng, dũng mãnh phát khởi đại chí, tận lực tu Tịnh nghiệp để mong noi dấu gương lớn, chấn hưng pháp đạo, ngõ hầu huệ mạng của Như Lai được tiếp nối chẳng dứt, chẳng đến nỗi phụ ý nghĩa “con người sánh cùng với trời đất xưng là Tam Tài, Tăng cùng với Phật, Pháp được gọi là Tam Bảo”.

Thiền sư Vân Cốc đời Minh chính là người như vậy. Sư nương nguyện lực xưa, vào năm Hoằng Trị thứ 13 (1500), thị hiện sanh trong nhà họ Hoài ở Tư Sơn, Gia Thiện[20], đi tu từ bé, triệt ngộ tự tánh. Bình sinh tu tập tuy chú trọng vào Thiền, nhưng đối với các tông Tánh, Tướng, tâm yếu của Nho, Đạo, không gì chẳng dung hội quán thông. Vì thế, nhằm lúc Thiền - Giáo suy đồi, Nho - Đạo tối tăm, Sư làm cho Tông phong chấn hưng, tâm pháp sáng tỏa, khiến cho thế đạo nhân tâm được lợi ích quả thật chẳng nhỏ. Những người kế thừa được pháp của Ngài, dung thông cả Nho lẫn Thích khiến cho tâm pháp Linh Sơn, Tứ Thủy được tỏ bày rõ ràng thì Tăng như Hám Sơn đại sư, tục như ông Viên Liễu Phàm là những nhân vật nổi tiếng nhất. Sư tịch diệt năm Vạn Lịch thứ ba (1575), được dựng tháp bên chùa Thê Chân. Đến năm Vạn Lịch 45 (1617), ngài Hám Sơn đến lễ tháp, thấy tháp viện vắng lặng, chỉ có một vị Tăng chăm nom hương đèn. Nhân đó, bèn giao cho cư sĩ Trầm Định Phàm tu bổ cho trang nghiêm và lập ruộng Trường Sanh để làm kế sách lâu dài. Đến nay đã hơn ba trăm năm, hiện thời tuy nền móng vẫn còn, nhưng tường vách, nhà cửa không còn, khiến cho di tích của cổ đức không ai biết đến nữa. Gần đây, thế đạo nhân tâm ngày càng đi xuống, tà kiến lẫy lừng, chánh pháp suy vi. Nếu chẳng nêu bày gương mẫu tốt lành của cổ đức, làm sao chấn hưng Tông phong, khiến cho tà ma, ngoại đạo quy hàng cho được?

Cư sĩ Đồ Ban Âm ở Gia Hưng lo lắng, toan dựng lại tháp viện, in khắc, lưu truyền những chuyện hạnh - đức của Ngài, ngõ hầu hết thảy mọi người xuất gia, tại gia đều biết gương thơm của cổ đức. Từ đấy, vãn hồi được quyền tạo hóa: “Mạng do ta lập”, đoạn trừ phiền não chướng, “Phật từ tâm hiện”, kế thừa được chí của các vị Hám Sơn, Liễu Phàm, an ủi lòng Vân Cốc thiền sư. Nhưng do công trình rộng lớn sức một người khó thành, chẳng thể không cầu các vị đại đàn-việt giúp đỡ. Nếu như ai nấy đều có thể nương theo lời dạy “mạng do ta lập, phước do chính ta cầu” của Vân Cốc Thiền Sư, dốc sức thực hiện thì ngũ phước, tam đa đều nườm nượp trên thân, thiên tai nhân họa tuyệt chẳng nghe trong đời. Công huân khôn lường, lợi ích chẳng thể nêu được. Mong sao chẳng đến nỗi vì tiếc tài sản là của cải chung của năm nhà mà chẳng làm việc phước tam sinh hữu hạnh này. Do vậy trần thuật duyên do, mong mọi người cùng tán trợ vậy!

54. Lời tựa tái bản bộ Tây Phương Công Cứ[21]

Pháp môn Tịnh Độ chính là pháp môn đặc biệt để phổ độ chúng sanh của Như Lai. Đức Như Lai nghĩ thương chúng sanh nên thị hiện thành Chánh Giác, thuận theo mọi căn cơ, khéo léo khuyên dụ dần dần. Với hàng đại căn bèn dạy ngộ “nhất tâm tạo trọn mọi thứ”, đoạn Hoặc chứng chân, dùng đó để tiến thẳng vào Bồ Đề. Với hàng tiểu khí thì dạy hiểu rõ nhân quả ba đời, hướng lành, tránh dữ để làm phương tiện nhập đạo. Tuy Đại - Tiểu bất đồng, Quyền - Thật khác biệt, nhưng đều phải đoạn được hai thứ Kiến Hoặc và Tư Hoặc mới có thể thoát khỏi phần đoạn sanh tử. Nếu Hoặc nghiệp chưa hết, đạo quả chưa thành, dẫu có tu trì vẫn chẳng thể tự làm chủ được! Ở trong sanh tử đã lâu, người tấn đạo thì ít, kẻ lui sụt thì nhiều là vì đạo chẳng thắng nổi tập khí, nghiệp ràng buộc tâm. Ví như chén bát chưa nung, gặp mưa liền rã. Tuy có công từ trước vẫn hoàn toàn chẳng được lợi ích gì. Do lẽ đó, Phật bèn đặc biệt mở ra pháp môn tín nguyện niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ, khiến cho dù phàm hay thánh, dù trí hay ngu đều dùng lòng tin sâu, nguyện thiết tha, trì danh hiệu Phật cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới. Đây chính là dùng tín nguyện của chính mình để cảm Phật từ bi, cảm ứng đạo giao ắt được nhiếp thọ. Đến khi lâm chung được theo Phật vãng sanh. Đã vãng sanh là đã đoạn Hoặc, mau chứng Vô Sanh. Người có đủ nghiệp chướng buộc ràng cũng dự vào địa vị Bất Thoái. Từ đấy thân cận Di Đà, dự vào hải chúng, được un đúc, dưỡng dục, giáo hóa, nhiễm mùi hương mầu nhiệm của Như Lai, chướng hết, trí trọn, khôi phục Phật tánh sẵn có. Nâng đỡ căn cơ kém cỏi, khéo dụ sơ tâm, chỉ có mình pháp môn này thật là bậc nhất. Ân Như Lai rộng lớn châu đáo, dẫu thiên địa, cha mẹ cũng không thể sánh ví được muôn một!

Người xưa muốn cho đồng nhân ai nấy đều tu Tịnh nghiệp; do vậy bèn tập hợp kinh, chú, những bài văn, lời nói và những sự ứng nghiệm tạo thành một cuốn sách, đặt tên là Tây Phương Công Cứ. Công Cứ có nghĩa là cái chuôi (cốt lõi) và bằng khoán vậy. Nếu có thể thọ trì A Di Đà Kinh sẽ biết thế giới Cực Lạc chẳng có các nỗi khổ, chỉ hưởng những điều vui, y báo, chánh báo trang nghiêm, đủ mọi công đức; A Di Đà Phật hiện đang thuyết pháp, thọ mạng, quang minh vô lượng, thệ nguyện rộng sâu; các thượng thiện nhân cùng ở chung một chỗ, đều do tu diệu hạnh “nhiều phước đức nhân duyên” tín nguyện niệm Phật mà được sanh. [Biết vậy rồi] ai mà không thật sự vì sanh tử, phát tâm Bồ Đề, dùng lòng tín nguyện sâu xa, thiết tha để mong gần là được đạt lên địa vị Bất Thoái, xa là viên thành Phật đạo? Huống chi chư Phật sáu phương lợi ích khắp các chúng sanh, Bổn Sư Thích Ca đắc vô thượng đạo, không vị nào chẳng khởi đầu từ pháp này mà rốt cuộc cũng quy về pháp này đó ư?

Ấy là vì hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh, tâm này làm Phật, tâm này là Phật, do lấy Quả Địa Giác làm Nhân Địa Tâm, cho nên nhân bao trùm biển quả, quả tột nguồn nhân. Pháp môn mầu nhiệm, không còn gì mầu nhiệm hơn được nữa, là chỗ quy tông cuối cùng của kinh Hoa Nghiêm. Quả thật pháp này đã diễn giảng trọn vẹn thông suốt bổn hoài của Như Lai. Có duyên gặp được thì chính là nhiều thiện căn, phước đức, nhân duyên. Nhằm ngăn ngừa nghi ngờ, lui sụt, nên còn gộp cả vào sách những đồ thuyết[22] ứng nghiệm. Ông Từ Triệu Hành xưa có linh căn, đau xót song thân mất sớm, mong họ cùng lên chín phẩm sen; do vậy, phát tâm tái bản để rộng lưu truyền. Ngõ hầu cha mẹ trong đời này cũng như kẻ oán người thân nhiều kiếp, khắp cả pháp giới chúng sanh cùng vào biển nguyện của Phật Di Đà. Tôi mến lòng hiếu thuận của ông ta, bèn thuật những nét chánh. Nếu người đọc không cho lời tôi là sai, ắt sẽ có ngày tự chứng đại sự nhân duyên rất sâu vô thượng này vậy, còn mong mỏi gì hơn!

55. Lời tựa cho Hồng Kiều Tịnh Độ Đường ở Lạc Thanh[23]

Pháp môn Tịnh Độ chính là pháp môn phổ độ chúng sanh, viên đốn, thẳng tắt, rộng lớn, giản dị nhất của Như Lai. Vì sao nói vậy? Do trong hết thảy pháp môn đều phải đoạn Kiến Hoặc và Tư Hoặc mới hòng liễu thoát sanh tử. Nhưng đoạn Kiến Hoặc giống như cắt ngang dòng nước rộng bốn mươi dặm, huống chi Tư Hoặc? Đoạn Kiến Hoặc liền chứng Sơ Quả. Nếu ước theo Viên Giáo thì là bậc Sơ Tín. Đoạn sạch Tư Hoặc liền chứng Tứ Quả, tức là Thất Tín trong Viên Giáo. Sơ Quả Sơ Tín vẫn còn sanh tử, Tứ Quả Thất Tín mới liễu thoát được. Nhưng Thiên Thai Trí Giả đại sư thị hiện thuộc vào địa vị Ngũ Phẩm. Tuy sở ngộ đã bằng với chư Phật, khuất phục trọn vẹn Ngũ Trụ phiền não[24], nhưng Kiến Hoặc vẫn chưa hề đoạn được. Thế nhưng Bổn Địa của đại sư thật sự chẳng thể suy lường, lâm chung chỉ nói mình chứng Ngũ Phẩm [là vì] Ngài lo sâu xa cho đời Mạt chẳng dốc sức đoạn Hoặc chứng chân, chỉ lấy minh tâm kiến tánh làm chuyện rốt ráo. Minh tâm kiến tánh chính là đại triệt đại ngộ. Nếu là bậc tối thượng thượng căn thì hễ ngộ bèn chứng, nên liền giải quyết xong. Nếu không, dẫu biết được chuyện vị lai như sư Viên Trạch vẫn chẳng tránh khỏi bị thọ sanh lần nữa. Như Ngũ Tổ Giới lại sanh làm Tô Đông Pha, Thảo Đường Thanh lại sanh làm Lỗ Công, [tuy thế] vẫn chưa phải là quá tệ. Như sư Hải Ấn Tín trở thành con gái ông Châu Phòng Ngự, kể ra đã khó chịu đựng nổi. Ông Tăng núi Nhạn Đãng trở thành Tần Cối thì thật đáng thương xót quá sức!

Tự lực đoạn Hoặc chứng chân liễu sanh thoát tử khó khăn quá lắm! Những giáo lý tu chứng thông thường đức Như Lai đã nói trong cả một đời tuy là nhiều thứ pháp môn khác nhau, nhưng chẳng hề có chuyện còn đầy đủ Hoặc nghiệp lại có thể liễu sanh thoát tử! Chỉ có mình pháp môn Tịnh Độ, hễ có đủ lòng tin chân thành, nguyện thiết tha, dùng tâm chí thành trì danh hiệu Phật, cầu sanh Tây Phương, bất luận Hoặc nghiệp dầy - mỏng, công phu cạn - sâu, đều trong lúc lâm chung nhờ vào Phật từ lực đới nghiệp vãng sanh. Đã được vãng sanh là đã siêu phàm nhập thánh, liễu sanh thoát tử. Từ đấy, dần dần tấn tu, liền tự chứng được Vô Sanh cho đến viên mãn Phật Quả.

Đây chính là pháp môn đặc biệt do Như Lai thương xót chúng sanh căn cơ kém hèn làm cho họ đều được ngay trong đời này nhanh chóng thoát luân hồi. Phải biết pháp môn Tịnh Độ thật ra để thâu nhiếp người căn cơ thượng thượng! Vì thế, Thiện Tài đã chứng Đẳng Giác, Phổ Hiền Bồ Tát còn dạy dùng mười đại nguyện vương hồi hướng vãng sanh ngõ hầu viên mãn Phật quả. Lại còn đem điều ấy khuyên khắp Hoa Tạng hải chúng. Do vậy, biết rằng: “Một pháp hồi hướng vãng sanh Tịnh Độ chính là bước cuối cùng để viên mãn Phật quả!”

Đời có kẻ cuồng chẳng xét kỹ giáo lý, thấy ngu phu ngu phụ đều có thể tu trì pháp này, bèn miệt thị là pháp Tiểu Thừa. Chẳng biết đây chính là pháp môn bậc nhất “thành thủy thành chung, một đời thành Phật” của kinh Hoa Nghiêm. Cũng có kẻ ngu tri kiến hẹp hòi, cho rằng công phu của chính mình cạn mỏng, nghiệp lực sâu dầy, làm sao vãng sanh cho được? Chẳng biết tâm tánh của chúng sanh và tâm tánh chư Phật không hai. Ngũ Nghịch, Thập Ác sắp đọa địa ngục, gặp thiện tri thức dạy cho niệm Phật hoặc đủ mười tiếng hoặc chỉ mấy tiếng rồi liền lâm chung còn được vãng sanh. Quán kinh nói thế, cớ sao không tin? Bọn họ còn vãng sanh, huống chi chúng ta dẫu có tội nghiệp, nhưng còn có chút công phu, so với phường Ngũ Nghịch, Thập Ác niệm mười tiếng hay mấy tiếng kia, đương nhiên còn cao hơn rất nhiều, cớ sao lại tự khinh, tự bỏ, đến nỗi đánh mất lợi ích vô thượng này!

Như Lai gọi pháp môn Tịnh Độ này là “pháp khó tin” bởi lẽ pháp này hạ thủ dễ dàng nhưng thành công cao, dùng sức ít nhưng được hiệu quả nhanh chóng, viên đốn, thẳng tắt, rộng lớn, giản dị hơn hẳn những giáo lý thông thường trong cả một đời đức Phật giáo hóa. Nếu chẳng phải xưa đã có thiện căn, quyết khó thể tin nhận phụng hành. Tôi thường nói: “Chín pháp giới chúng sanh lìa môn này thì trên chẳng thể viên thành Phật đạo, mười phương chư Phật bỏ pháp này thì dưới chẳng thể lợi khắp quần manh”, đấy chính là sự thật vậy! Nay đang là lúc nào? Chính là thời đao binh, đói kém, tật dịch đều nhóm họp, tuy chưa đến nỗi là ba tiểu tai[25], nhưng cũng đã là hiện tượng của ba tiểu tai vậy! Huống chi tà thuyết tung hoành, tri thức hiếm hoi, muốn nghe chánh pháp thật chẳng dễ gì! Có cư sĩ Hồ Thiên Bộc phát Bồ Đề tâm, dốc lòng tu Tịnh nghiệp, lại muốn cho đồng nhân ai nấy đều được lợi ích, bèn cực lực đề xướng, khuyên dạy. Đúng là lấy chuyện “giúp cho sự sanh trưởng của trời đất, thay Phật hoằng dương, giáo hóa” làm thiên chức! Người một phương nghe ông thuyết pháp, cảm thời thế này, khôn ngăn cái tâm chán lìa, ưa thích[26] tràn trề nẩy sanh. Một người xướng, mọi người hòa, không đâu chẳng phục tùng. Do vậy, cư sĩ tự bỏ ra đất đai và quyên mộ thiện tín, lập Niệm Phật Đường, đào ao phóng sanh và lầu Tàng Kinh, Công Đức Đường, Hương Tích Trù (tức nhà bếp), Ứng Cúng Đường (trai đường), nghiễm nhiên từ mặt đất vọt lên một đại đạo tràng.

Niệm Phật Đường thật rộng lớn, trong ấy thờ tượng đứng của Tây Phương Tam Thánh ngõ hầu hành nhân thường ngắm nhìn, lâm chung liền được tiếp dẫn. Ngay chính giữa lập tòa thuyết pháp, người nghe ngồi chung quanh. Dù đông đến ngàn người cũng chẳng chật chội, ngõ hầu người từ bốn phương tới cũng chẳng đến nỗi than thở vì chen chúc. Lầu Tàng Kinh thỉnh đủ kinh khắc từ các nơi cho những người phát tâm thọ trì, nghiên cứu. Công Đức Đường thì ghi đủ những số mục công đức của những người đã đóng góp. Lại còn lập đầy đủ các bài vị để người còn tăng phước tăng thọ, kẻ mất lên thẳng Liên Bang. Nhưng nếu đã chuyển pháp luân, không giúp thực luân (ăn uống) thì quyết khó thể ở lâu chẳng về. Do vậy, lập riêng Hương Tích Trù, Ứng Cúng Đường khiến cho người niệm Phật nghe pháp ai nấy đều được thỏa lòng vừa ý mới thôi. Ao Phóng Sanh ở trước pháp đường dành để nuôi những con vật suýt bị nấu nướng, chẳng những nuôi sống sắc thân chúng, lại còn dùng tiếng kinh, Phật hiệu giúp cho huệ mạng của chúng. Những công trình xây dựng đều hết sức châu đáo. Ước tính tốn hơn một vạn sáu ngàn đồng, nay đã lạc thành, tính khai giảng vào ngày Rằm tháng Tám Âm lịch này, quả là chuyện hiếm thấy trong đời Mạt Pháp.

Lại nhờ bạn ông ta là Trương Vân Lôi gởi thư cho Quang, xin viết lời tựa dẫn giải hòng khởi phát, mở rộng tín tâm. Nhân đó, tôi bèn đem nguyên do đức Như Lai nói ra hai thứ pháp môn thông thường và đặc biệt, cũng như tâm hạnh của Hồ cư sĩ và cách thức sắp đặt, trình bày đại khái, ngõ hầu người đọc đều bắt chước theo. Nếu người thấy nghe đều cùng phát tâm này thì phong tục thuần mỹ, dân mạnh, vật mạnh, chuyển ngũ trược ác thế thành Liên Bang thanh tịnh. Đấy chính là điều Quang tôi thường thơm thảo cầu đảo vậy. Nguyện các thượng thiện nhân ai nấy rủ lòng thương xót thì may mắn lắm thay!

56. Lời tựa sách A Di Đà Kinh Trực Giải

Một niệm tâm tánh của chúng ta quả thật chẳng hai, chẳng khác với Phật Thích Ca, Phật Di Đà; nhưng Phật Thích Ca, Phật Di Đà đã thành Phật đạo từ trần điểm kiếp trước, lại còn bao lần thị hiện giáng sanh, bao lần thị hiện nhập diệt để thực hiện sự giáo hóa. Phật muốn làm cho chúng ta noi theo dấu thơm, nhưng chúng ta không có sức đoạn trừ phiền não Hoặc nghiệp, mãi cho đến ngày nay vẫn trong sanh tử luân hồi thoạt chìm thoạt nổi, chẳng biết làm thế nào để ngưng dứt. Dẫu bao kiếp trước từng nghe Phật pháp, y giáo tu hành, nhưng do tự lực hèn yếu chẳng thể đoạn Hoặc, nên vẫn cứ đắm chìm trong biển khổ sanh tử y như cũ không thể thoát được! Im lặng suy nghĩ, há chẳng hổ thẹn ư?

Phật Thích Ca, Phật Di Đà xét thấu lẽ ấy, đặc biệt mở ra pháp môn tín nguyện niệm Phật, dạy nương vào Phật từ lực vượt ngang ra khỏi tam giới khiến cho thượng trung hạ căn cùng được vãng sanh Tây Phương, có thể nói thật là đại từ bi đến cùng cực không chi hơn được nữa! Nhân duyên khởi lên giáo pháp, pháp tắc tu trì được thấy trọn vẹn trong Tịnh Độ Tam Kinh, nhưng kinh A Di Đà ngôn từ giản dị, nghĩa lý trọn vẹn, dễ dàng thọ trì. Do vậy, cổ nhân xếp vào kinh nhật tụng, muốn cho nhà nhà được khuyến hóa, thấu hiểu, đều được tắm gội pháp trạch! Bởi thế, các thiện tri thức thảy đều chú thích, khác nào mặt trời, mặt trăng giữa trời nên không nghĩa nào chẳng hiển hiện, không căn cơ nào chẳng được thâu nhiếp. Nhưng hàng sơ cơ đối với văn sâu nghĩa thẳm khó thể lãnh hội, cho nên cư sĩ Vương Hiển Giang đặc biệt tạo phương tiện, đem những điều sách Yếu Giải đã chú sớ diễn giải lại bằng ngôn ngữ thông thường, dễ hiểu, đặt tên là Trực Giải, kèm thêm những nghi vấn về Tịnh Độ. Cái tâm tự lập, lập người, tự lợi, lợi tha ấy có thể nói thật là thiết tha. Hiển Ấm pháp sư viết lời tựa, muốn cho hết thảy đồng nhân ai nấy đều sanh lòng tin chân thật, chất phác niệm Phật, bèn sai Quang viết thêm lời tựa khác, nên tôi bèn trình bày chuyện này cùng người đọc.

57. Lời tựa sách Thập Tam Kinh Độc Bản

Trời đất dùng hai khí Âm - Dương để hóa sanh vạn vật. Thánh nhân dùng “thành minh nhất trí” để giáo dục quần manh. Ấy là Đạo vậy! Theo chiều ngang truyền khắp muôn nước, theo chiều dọc lưu truyền muôn đời. Những người hiểu biết đều tuân hành, không ai biết suy nghĩ chẳng phục. Dẫu thánh nhân sống lại cũng chẳng thể lập pháp nào khác. Cũng chẳng qua là phát huy đạo Thành Minh cho được phô bày trọn vẹn triệt để, giãi bày hết cả ra mà thôi! Thập Tam Kinh là đại kinh, đại pháp “cách vật trí tri, thành ý chánh tâm, tu - tề - trị - bình” được nhị đế, tam vương[27], Châu Công, Khổng Tử, Mạnh Tử tiếp nối ngôi trời lập ra để giáo hóa muôn đời. Nó chính là lý tột cùng thiên địa không riêng tư, là lương tri sẵn có của chúng ta. Thoạt đầu chẳng có gì đặc biệt, lạ lùng, huyền diệu, chẳng thể đạt đến được, dẫu là kẻ ngu phu ngu phụ cũng vẫn có thể thực hiện được. Bởi lẽ, con người có cùng một cái tâm này, tâm có cùng một lý này. Nghiêu - Thuấn cũng như mọi người, mà ai nấy cũng đều có thể trở thành Nghiêu - Thuấn. Nếu tuân hành theo thì ai nấy đều thành thánh, thế giới đại đồng.

Thế đạo suy sụp, nhân tâm tệ bạc là do Nho gia chẳng biết đạo nằm ở chỗ tận tụy thực hành, một mực chạy theo cái ngọn, nhất loạt gác lại chuyện “khắc kỷ, giữ lễ, dứt lòng tà, giữ lòng thành” không bàn đến nữa, chỉ lo học thuộc từ chương, hòng làm cái vốn tiến thủ, xử thế. Do vậy, biến cái đạo giúp cho quyền sanh thành, giáo hóa của thánh nhân trở thành một nghề khéo hòng thâu danh đoạt lợi. Đúng là vu hãm, khinh miệt thánh nhân, trái nghịch thiên địa đến cùng cực vậy! Do thế, người đọc sách tâm chẳng hiểu nghĩa sách, thân chẳng hành theo đạo sách đã dạy. Khi làm văn bèn phát huy đạo hiếu, đễ, trung, tín, lễ, nghĩa, liêm, sỉ chẳng sót mảy may nào, nhưng xét đến chỗ suy nghĩ, xử sự, hoàn toàn chẳng có những khí phận ấy! Khác gì kép hát diễn tuồng, khổ - sướng, buồn - vui diễn cho thật giống, thật ra chẳng mảy may gì liên can đến chính hắn. Mối tệ ấy một khi khởi lên dần dần ngày càng trở thành quá đáng. Do vậy, những kẻ có thiên tư quen thói cuồng vọng, xấu hổ phải noi theo dấu của Nghiêu, Thuấn, Châu, Khổng, cứ muốn vượt lên, rốt cuộc thành ra vứt bỏ thánh kinh, đua nhau soạn sách mới. Tà thuyết vừa dấy, [đại chúng] đua nhau phụ họa, đến nỗi những kẻ tiểu nhân xấu hèn muốn phô phang cái tâm cướp đoạt, gian dâm của chính mình, bèn vội vã đề xướng và thực hiện thuyết chung vợ, chung tài sản; chỉ sợ dân chúng chẳng giống với loài cầm thú, sợ cương thường luân lý gây trở ngại cho chính mình, đến nỗi thiên tai nhân họa liên tục giáng xuống, vận nước nguy ngập, dân không lẽ sống! Ví như đi đêm vứt đuốc, đi biển bỏ thuyền, muốn chẳng sa xẩy, chìm đắm, há có được chăng?

Ông Thi Triệu Tăng sợ đạo này diệt mất bèn cùng với hai ba người cùng chí hướng lập ra Quốc Học Chuyên Tu Quán, tụ tập những người có chí nơi đạo này để chuyên tinh nghiên cứu, đích thân tận lực thực hành, mong lưu truyền rộng những điều sở đắc. Ông Đường Văn Trị hơn mười năm qua tinh thông đạo này, sưu tập những bản Thập Tam Kinh hay nhất, chọn lấy những bản chú giải giản dị, xác đáng, gộp thành một tập; lại đối với mỗi một kinh chọn ra mấy câu hòng nêu được ý nghĩa chính, ghép vào cuối kinh. Dụng tâm có thể nói là hết sức tha thiết. Ông Thi bèn cho khắc in để lưu truyền trong các trường học, ngõ hầu ai nấy đọc tụng, tập tành theo. Khắc xong, chính ông ta và ông Đường đều viết lời tựa, thuật rõ duyên do. Lại nhờ tôi viết lời tựa. Tôi nghĩ Thập Tam Kinh lưu truyền trong đời như mặt trời, mặt trăng sáng vằng vặc giữa trời, ai có mắt đều thấy; cần gì đợi ông Tăng tầm thường chỉ biết cơm cháo này chỉ bày nữa ư? Tuy đạo cố nhiên không hai, nhưng người nhân kẻ trí thấy khác, nên chẳng ngại đem sở kiến của mình thuật cùng người nhân, kẻ trí, chưa chắc chẳng giúp gì được cho việc thấu hiểu kinh, mong thành thánh vậy.

Trộm nghĩ: Đạo được phát minh bởi Thập Tam Kinh chính là đạo “cách vật trí tri, thành ý, chánh tâm, tu - tề - trị - bình”, nhưng xiển phát yếu chỉ “cách vật trí tri, thành ý chánh tâm, tu - tề - trị - bình” chỉ có sách Đại Học là nói lớp lang, trình bày tột cùng. Trung Dung, Luận Ngữ, Mạnh Tử đều phát huy nghĩa này, nhưng chẳng nói tuần tự theo thứ lớp. Do vậy, biết Tứ Thư chính là chú sớ của kinh Dịch, kinh Thư, kinh Thi, Châu Lễ, Lễ Nghi, Lễ Ký để đạo ấy được sáng tỏ lớn lao. Hiếu Kinh thúc đẩy cho việc thực hành đạo ấy được hữu hiệu. Ba truyện Xuân Thu[28] chính là những chứng nghiệm của chuyện tuân thủ, trái nghịch, được - mất vậy. Do đó, bổn tâm của chúng ta, đạo tân truyền của chư thánh đều được sáng tỏ. Dùng đó để kế tục cổ thánh, mở lối cho hậu học. Công ấy bằng với công trời che đất chở. Những kẻ bỏ kinh khác gì muốn vứt bỏ trời che đất chở để tự lập ư? Những kẻ ấy chẳng biết sự vụ quá đáng! Hướng theo đó mà cầu thì mọi chuyện mong thành thánh thành hiền, đạo trị quốc tân dân không điều gì chẳng rõ ràng như từng đường chỉ trong bàn tay. Không mong thành thánh thành hiền thì thôi, chứ nếu muốn thành thánh thành hiền thì đạo thánh hiền tự sẵn đủ nơi thân và tâm chúng ta. Những giải thích từ sách Nhĩ Nhã[29] chính là chú thích chung cho các kinh, ngõ hầu dù văn hay nghĩa đều được hiểu rõ. Như vậy, Nhĩ Nhã là giải nghĩa ở mức độ ban đầu, còn Tứ Thư là pháp môn tổng trì thành thủy thành chung.

Bàn đến ý nghĩa trọng yếu ở một mức độ cao hơn thì Minh Đức là gốc, còn làm sáng tỏ Minh Đức lại chính là mấu chốt để từ phàm tiến lên thánh, để con người hợp với trời. “Làm sáng tỏ được Minh Đức” (minh Minh Đức) thì trong là thánh đạo, ngoài là vương đạo đều được trọn vẹn vậy. Nhưng muốn làm sáng tỏ Minh Đức thì phải trừ khử “món vật” nhân dục cho hết sạch không còn sót gì khiến cho Chân Tri sẵn có ngay trong tâm được triệt để phơi bày trọn vẹn. Bổn phận của người đọc sách chỉ nằm trong mấy điều ít ỏi này mà thôi. Còn gì thẳng tắt, còn gì dễ dàng hơn? Mới biết ai cũng có thể là Nghiêu - Thuấn, ngu phu ngu phụ cũng có thể biết được, làm được. Đấy chính là chân ngữ, thật ngữ; do con người có cùng một tâm này, tâm cùng một lý này. Muốn cho thế đạo nhân tâm chuyển từ loạn thành yên, biến ác nghiệt thành thuần hòa, mà bỏ điều này thì không còn cách gì nữa! Không biết ông Thi, ông Đường có cho lời tôi luận là đúng hay không? Nhưng những điều này là luận trên pháp thế gian, chớ lầm tưởng là luận về pháp xuất thế gian. Tha thiết dặn dò vậy!

58. Lời tựa dùng phẩm Đoạn Thực Nhục (dứt ăn thịt) của kinh Lăng Già để răn thần đừng hưởng đồ cúng mặn

(viết thay cho cư sĩ Lư Trí Duệ ở huyện Y tỉnh An Huy)

Kính cẩn dựa theo lời Phật: Hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh, do nhân duyên tội phước mà luân hồi sáu nẻo. Nếu chẳng tận lực tu Giới - Định - Huệ để mong đoạn sạch tham - sân - si và sanh tín phát nguyện niệm A Di Đà Phật cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới thì không cách nào thoát ly được. Đây chính là vì ta cùng hết thảy chúng sanh sống trên không, dưới nước, trong sáu nẻo từ vô thỉ đến nay không ai chẳng xoay vần làm cha mẹ, anh em, thê thiếp, con cái, bạn bè, thân thích, không một ai trong vị lai chẳng được nghe Phật pháp tu Giới - Định - Huệ, đoạn sạch phiền hoặc, viên thành Phật đạo. Do vậy, Như Lai truyền dạy các đệ tử kiêng giết, phóng sanh, chớ ăn các loại thịt. Nhưng tình ý mê muội của thế tục thường cho rằng cúng đồ mặn mới là cung kính, chẳng biết cả mình lẫn người đều gieo nhân ác đến nỗi tương lai phải chịu ác báo.

Nay ta đã biết tội lỗi của việc ăn thịt há nỡ để người trong cùng một làng vẫn chấp vào tình kiến mê muội ấy, để nhân duyên tội nghiệp ăn thịt làm lụy đến vị tôn thần ư? Lại sợ tôn thần chưa hiểu thấu duyên do mà sanh sân nộ, giáng xuống tai họa khiến người trong làng mê muội càng nặng, khiến cho ác báo trong tương lai của người trong làng và tôn thần càng thêm sâu, thêm lớn, chẳng dễ gì tiêu diệt được! Do vậy, riêng lấy phẩm Đoạn Thực Nhục từ kinh Nhập Lăng Già[30] của đức Phật đã nói cung kính thiêu trước lò hương của thần, ngõ hầu trên hiểu thấu lòng từ của Phật, dưới thương xót tấm ngu thành, yêu tiếc mạng loài vật, chẳng hưởng của cúng tế bằng thịt. Phàm những khi cúng chay bèn ban cho may mắn. Nếu dùng đồ mặn bèn hiện ra họa ương, khiến cho người trong làng cùng cảm nhận đức thông minh, chánh trực, hiếu sanh, ghét giết chóc của tôn thần, khiến cho gió Từ thổi khắp, hòng bồi đắp gốc đạo Bồ Đề, vãn hồi kiếp vận, cùng vui thái bình vô sự. Kính mong thần hãy sáng soi thì người trong làng may mắn lắm, vận nước may mắn lắm!

59. Lời tựa cho Đồng Giới Lục của chùa Phổ Chiếu ở Dương Châu

Như Lai đại pháp ứng khắp chín giới, thượng thánh hạ phàm đều được un đúc. Tuy pháp môn vô lượng chẳng dễ nói trọn, nhưng nêu đại cương chung thì chỉ có Giới - Định - Huệ. Ấy chính là chỗ trọng yếu để nhập đạo. Thoạt đầu thì dùng Giới để giữ thân, kế đến dùng Định để lắng tịnh ý niệm, rồi dùng Huệ để phá Hoặc. Do vậy, đoạn được Ngũ Trụ Phiền Hoặc, chứng được bí tạng tam đức. Vì thế, kinh Lăng Nghiêm dạy: “Nhiếp tâm là Giới, nhân Giới sanh Định, nhân Định phát Huệ”. Đây gọi là Tam Vô Lậu Học. Ba pháp này như ba chân của cái đỉnh, nếu khuyết một thì khó thể đứng vững. Tuy nói có ba nhưng tu thì chỉ một tâm. Bởi lẽ Giới không có Định - Huệ thì chẳng phải là Giới xuất thế; Định không có Giới - Huệ thì chẳng phải là Định xuất thế. Huệ không có Giới - Định chẳng phải là Huệ xuất thế. Do vậy biết ba pháp ấy vốn là một pháp. Nói có ba là do chú trọng hoằng dương nơi mặt nào mà đặt tên, cũng như do nơi tu chứng đạt được ích lợi mà phán định ý nghĩa. Kinh Phạm Võng dạy: “Ta là Phật đã thành, các ông là Phật chưa thành. Thường nên tin như thế thì Giới Phẩm đã trọn đủ”. Lại dạy: “Chúng sanh nhận lãnh giới của Phật liền nhập vào địa vị chư Phật, địa vị bằng với Đại Giác, thật sự là con chư Phật vậy”. Đủ thấy Giới thống nhiếp các pháp. Do đó, tri thức hoằng dương, người học tu trì, không ai chẳng lấy Giới làm nhiệm vụ trước tiên.

Phổ Chiếu Tự do Đạo Thanh lão nhân sáng lập. Lão nhân thị hiện sanh tại Tứ Xuyên, tuổi mới nhược quan (20 tuổi) liền chán trần lao, bèn đến xuất gia tại Hoa Nghiêm Đảnh ở Nga Mi Sơn, được thọ giới rồi tận lực tham cứu đến cùng để thấu tỏ tâm yếu, muốn tham học các nơi để mở rộng tâm địa, khi đi qua Dương Châu được thân sĩ làng Vĩnh Trấn ngoài cửa Từ Ngưng biết đến, thỉnh Sư trụ trì tại tiểu miếu Thái Dương Cung nơi ấy. Lão nhân xét thấy chỗ ấy có thể lập đạo tràng, do vốn có túc duyên, nên bèn chấp nhận. Vào năm đầu đời Quang Tự (1875) nhà Thanh trước kia bèn quyên mộ khắp mười phương mở mang nền móng, điện Phật, lầu kinh chót vót tận mây. Phàm những gì tùng lâm nên có, việc tu hành cần phải có thì không gì chẳng đầy đủ. Từ đấy mùa Đông tọa Thiền, mùa Hạ giảng pháp, rộng mở cửa cứu độ. Thiện sĩ, đạt nhân thảy đều y chỉ. Đến năm Quang Tự 22 (1896), lên kinh đô thỉnh kinh, được vua chấp thuận sắc tứ biển ngạch “Phổ Chiếu Thiền Tự”. Quả thật không còn gì may mắn hơn. Liền vào mùa Đông năm ấy, khai đàn truyền giới để báo ân nước, cầu phước cho dân. Cho đến năm Dân Quốc thứ năm (1916), đã mở giới đàn năm lần, ba lần mở trường giảng, luôn luôn tu trì. Tuy Thiền - Tịnh cùng hành, nhưng chú trọng nơi Tịnh Độ. Đến năm Dân Quốc thứ 8 (1919), Sư tuổi đã tám mươi tư, bèn thị hiện viên tịch trở về Cực Lạc, cùng với hải hội thánh chúng thân cận Di Đà để chứng vô lượng quang thọ; đệ tử thế độ đắc pháp rất nhiều.

Vì Sư có vị cao túc[31] tên là Đạo Hương, thân thiết và thuận thảo với Quang, muốn vào mùa Đông này đưa Ngài ra khỏi khám[32] dựng tháp thờ, vào ngày Rằm tháng Chín bèn mở đàn truyền giới đến ngày mồng Tám Đông nguyệt (tháng Chạp) là viên mãn để báo ân Phật, tạo phước ngầm cho thầy, sai Quang viết lời tựa. Quang nghĩ Phật giáo lấy Hiếu làm gốc; cho nên, kinh Phạm Võng dạy: “Hiếu gọi là Giới, cũng gọi là chế chỉ (ngăn dứt), hiếu thuận là pháp đạo tột cùng. Y giáo phụng hành mới gọi là Hiếu”. Y giáo phụng hành thì những gì Phật đạt được chính ta sẽ đạt được, từ phiền não sẽ thành Bồ Đề, ngay trong sanh tử chứng Niết Bàn, mới khỏi cô phụ ân Phật giáo hóa, chẳng phụ bạc tánh linh của chính mình, là bậc trượng phu lỗi lạc, là con chân thật của đức Như Lai. Nếu chẳng y giáo phụng hành thì dưới lớp ca-sa, đánh mất thân người, nỗi khổ tam đồ ác đạo dẫu hết cả kiếp vẫn chưa thể nói hết được. Nguyện các Phật tử thọ giới ai nấy đều gắng lên.

60. Lời tựa khắc lại bộ Thủy Lục Nghi Quỹ

Ơn Phật rộng lớn, trọn khắp, chẳng còn sót tí gì. Thoạt mới thành Chánh Giác, bèn nói ra pháp Ngài đã chứng, chỉ riêng hàng Pháp Thân đại sĩ mới có thể lãnh hội được; nhân, thiên, phàm phu, Tiểu Thừa chẳng thấy, chẳng nghe. Do vậy, bèn từ Thật bày ra Quyền, ẩn Đại dùng Tiểu, tùy thuận cơ nghi, khéo léo khuyến dụ dần dần, đợi đến khi đã đoạn Phiền Hoặc, đã chứng Chân Đế, rồi mới quở trách mọi lẽ, nhiều cách đào thải, khiến cho phát đại tâm cầu Phật quả, chẳng trụ vào pháp mà tu vạn hạnh. Đến khi căn cơ đã chín muồi bèn hội tam quy nhất, khai Quyền hiển Thật, thọ ký thành Phật cho khắp tất cả, diễn bày thông suốt lớn lao bổn hoài xuất thế. Từ đấy, hiểu rõ hết thảy các pháp đều là Phật pháp, hết thảy mọi người đều là Phật tử, không còn ai cam lòng thoái khuất.

Lại còn thương xót những kẻ tự lực kém hèn, hiện tại quyết khó thể liễu thoát, liền đặc biệt mở ra pháp môn Tịnh Độ khiến cho họ cậy vào Phật từ lực vãng sanh Tây Phương. Có những kẻ tội chướng sâu nặng, định nghiệp chẳng dễ chuyển dời, bèn mở rộng bí mật quán đạo khiến cho họ nương vào sức Tam Mật[33] diệt cho hết sạch không còn sót. Nhưng hai pháp này là đạo để phàm lẫn thánh cùng tu, là pháp thành thủy thành chung; do chúng rõ ràng thiên về hàng phàm phu bị nghiệp buộc ràng khiến cho họ mau được lợi ích thù thắng mà nói như vậy; chứ thật ra mười phương tam thế chư Phật không vị nào chẳng do pháp này mà viên thành Phật đạo, không vị nào chẳng dùng pháp này để phổ độ quần manh.

Đến khi pháp truyền sang Chấn Đán, Lương Võ Đế lên ngôi, thuật giấc mộng cùng cao tăng để phổ độ các hàm linh; nhân đó, [chư Tăng] đọc trọn Đại Tạng, soạn thành nghi quỹ này. Từ đấy lưu thông cho đến ngày nay. Xét về nguồn cội thì dùng vô lượng oai đức đà-la-ni để phát khởi. Xét trên mặt trước thuật và cách xếp đặt thì hết thảy các pháp trong cả một đời giáo hóa không gì chẳng nêu trọn để đọc tụng, tu trì. Do đó, pháp môn ấy rộng lớn, lợi ích sâu rộng, không những làm cho lục đạo phàm phu mau thoát khỏi nghiệp trói buộc mà còn làm cho tam thừa thánh nhân mau chứng Bồ Đề.

Người có thể hoằng đạo, lòng thành kham phù hợp lẽ chân! Nếu vị trai chủ thỉnh pháp và các sư tác pháp ai nấy đều dốc kiệt lòng thành, tận lòng kính thì lợi ích không thể nào diễn tả được. Ví như mùa Xuân về trên cõi đất, thảo mộc đều được sanh thành; vầng trăng sáng vằng vặc giữa trời, sông ngòi mỗi đều hiện bóng. Vì thế, đương nhân được nghiệp tiêu trí rạng, chướng hết, phước cao, tiên vong đều được sanh về Tịnh Độ, sở cầu không gì chẳng toại ý, lại khiến cho oán thân bao kiếp, hàm linh trong pháp giới đều được tắm gội ân quang Tam Bảo, cùng kết duyên chủng Bồ Đề. Nếu trai chủ chẳng thành tâm thì công đức bỏ tiền [làm pháp hội] hữu hạn, tội lỗi khinh mạn pháp vô cùng. Tăng chúng chẳng chí thành thì thổi ống bễ, thổi sáo thành kinh, nhịp chày giã gạo thành lễ[34]. Lúc Tam Bảo long thiên giáng lâm, làm chuyện lỗ mãng, quấy quá, tắc trách, làm sao núi tội không cao chót vót, biển phước cạn khô, sống thì mắc họa tai, chết bị khổ sở[35] cho được? Sách này là bản của Hàng Thản[36], mờ mịt quá sức, chùa Thiên Đồng dù khắc cũng khó được phổ cập. Do vậy, Tịch Công chùa Vạn Thọ ở Duy Dương, Dũ Công chùa Bảo Luân v.v… quyên tiền để khắc lại hầu được lưu truyền rộng rãi, sai Quang ghi lại năm tháng. Do vậy, lược thuật nguyên ủy cũng như điều lợi, mối tệ, để người theo đuổi pháp này chỉ được lợi ích, chẳng bị tổn hại, thì Phật thánh hoan hỷ, phước lẫn huệ cả hai cùng tăng trưởng. Nguyện những người tu pháp này ai nấy đều gắng lên.

61. Lời tựa quyên mộ tu bổ, xây dựng ao phóng sanh chùa Đại Phật ở Tân Xương[37]

Nho thì lấy “trung hậu, khoan thứ, thương yêu người và vật như ruột thịt, như chính mình” làm trách nhiệm, ắt phải coi người khác cho đến loài vật đều như chính bản thân mình thì mới là người học đạo thật sự. Họ Thích lấy từ bi tế độ làm trọng. Vì vậy, thương xót các loài vật đều có Phật tánh, muốn thực hiện sự cứu giúp. Hiềm rằng người đời sát sanh ăn thịt đã thành thói quen, chẳng biết như vậy là sai, đến nỗi đời đời kiếp kiếp lần lượt giết lẫn nhau trọn chẳng khi nào ngơi! Chẳng đáng buồn ư? Phải biết con người và loài vật cùng mang cái thân máu thịt này, cùng có tánh linh tri này, cùng sống trong vòng trời đất, chỉ vì đây - kia kiếp trước tội - phước bất đồng đến nỗi đời này hình dáng, thể chất, lanh lợi - ngu xuẩn sai khác. Cậy mình mạnh lấn áp kẻ yếu, ăn thịt chúng nó để no bụng mình, khoái lòng sướng ý, cho là có phước báo, chẳng biết một khi phước lực vừa hết, nghiệp báo hiện tiền, đọa trong dị loại: Lúc bị người ta giết hại, thân không chống lại được, miệng không nói được, trong tâm lo sợ, đau khổ, mới biết chuyện ăn thịt là tội lỗi lớn! Người ăn thịt quả thật là La Sát[38]. Dù có muốn chẳng bị người khác giết ăn thịt cũng không thể được.

Do vậy, kinh Lăng Nghiêm dạy: “Do người ăn thịt dê, dê chết thành người, người chết thành dê, như thế cho đến mười loại giống như vậy, chết chết, sống sống, ăn nuốt lẫn nhau, do ác nghiệp cùng sanh ra cho đến tận đời vị lai”. Huống chi từ nhiều kiếp đến nay lại sanh ra nhau. Đã không có đạo lực để cứu tế, nỡ nào khiến chúng nó chịu nỗi đau cùng cực bị dao chặt xẻ để cho ta hưởng vị ngon nơi lưỡi miệng ư? Trong kinh Nhập Lăng Già, đức Thế Tôn quở trách thói ăn thịt nhiều lần. Có câu: “Hết thảy chúng sanh từ vô thỉ đến nay, luân hồi trong sanh tử chẳng ngơi, không ai chẳng từng là cha mẹ, anh em, con cái, quyến thuộc, cho đến là bằng hữu, người thân ái, tôi tớ. Qua đời khác bèn mang thân chim, thú v.v… Sao lại bắt lấy chúng để ăn thịt?” Phàm những người sát sanh ăn thịt, nếu nghĩ đến điều này ắt sẽ run rẩy, kinh sợ, tỉnh ngộ. Thà tự giết mình, chẳng thể giết hết thảy loài vật!

Vùng Tân Xương có quả núi tên là Thạch Thành, trên núi đục cái khám và tượng Di Lặc to cả trăm thước, do ba vị sư là Tăng Hộ, Tăng Thục đời Tề và Tăng Hựu đời Lương tạo dựng. Tướng hảo trang nghiêm, đẹp đẽ không thể sánh tầy. Chùa nơi ấy là Tây Môn của Thiên Thai, Trí Giả đại sư nhập diệt tại đó. Có lẽ muốn ngụ ý: Trước là kế tục Linh Sơn, sau là phụ trợ hội Long Hoa. Suốt cả đời Đại Sư tùy cơ thuyết pháp, Ngài đặc biệt chú trọng phóng sanh. Do dân vùng Thiên Thai đa số theo nghề đánh cá, để cứu vớt, Ngài mua một chỗ đánh cá, biến thành ao phóng sanh. Lại còn giảng cho ngư dân nghe kinh Kim Quang Minh. Ngư dân nghe pháp đều hiếu sanh, bỏ giết chóc, ai nấy đều bỏ đăng, đó trên sông ngòi . Cả sáu mươi ba chỗ rộng đến hơn ba trăm dặm, đều biến thành ao phóng sanh. Những ai đánh bắt trộm bèn lập tức mắc họa. Đến đời Đường vẫn y như vậy. Nhưng lâu ngày, người đã khuất, pháp tàn, lệnh cấm lỏng lẻo, đến nỗi cái ao ngoài chùa Đại Phật cũng trở thành chỗ đánh cá. Cư sĩ Mã Khế Từ ngưỡng mộ đức hạnh tốt đẹp, công huân thù thắng của các vị Tăng Hộ, Tăng Thục, Tăng Hựu, Trí Giả, muốn cho đồng nhân và hết thảy loài vật sống trên cạn, dưới nước, bay trên không đều được hưởng hết tuổi trời, cùng sanh về Cực Lạc, tương lai cùng được dự ba hội Long Hoa, nên đặc biệt xin ban hành lệnh nghiêm cấm, cho khắc lên đá ngõ hầu tồn tại vĩnh cửu.

Nhưng ao đã lâu chưa vét, bùn lầy đầy ứ, lại còn phải dựng tường vây quanh bên ngoài để phòng kẻ bắt trộm. Lại còn phải dựng cầu, sửa đập, cất đình, đắp đường; nào phải chỉ nhằm làm cho quang cảnh đẹp mắt mà thật ra là muốn cho những người đến lễ Phật trông thấy cảnh sắc lòng vui thư thái, trên là khế hợp tâm Phật, ngõ hầu tiêu trừ được thiên tai nhân họa mà không hay không biết! Nhưng do công trình rộng lớn không thể không quyên mộ mười phương quan viên, thân sĩ, thương gia cùng hết thảy thiện tín. Khẩn khoản mong mọi người phát lòng “chúng sanh và Phật đồng thể, loài vật và ta chẳng hai”, cùng bỏ ra tịnh tài khiến cho quang cảnh này được thành tựu thì công đức ấy có cùng thọ lượng với mười phương hư không.

62. Lời tựa truyền giới của Kim Sơn Giang Thiên Thiền Tự

Như Lai dùng ba sự để khiến cho chánh pháp tồn tại lâu dài nơi đời, chúng sanh [nhờ đó] đều được độ thoát. Ba sự ấy là gì? Chính là Giới - Định - Huệ. Do chúng sanh một bề trái giác, xuôi trần, luân hồi sáu nẻo, nay muốn cho họ trái trần, hợp giác, tiến lên chứng được Niết Bàn; nếu không có Giới thì do không bị trói buộc ắt sẽ rong ruổi theo trần cảnh bèn khởi Hoặc tạo nghiệp. Nếu không có Định thì sóng thức dâng trào, tâm làm sao vô sở trụ cho được? Nếu không có Huệ thì do đâu mà chứng triệt để được chân tâm sẵn có, các vọng Hoặc huyễn khởi biết nhờ đâu để diệt nhanh chóng cho được? Vì thế, kinh Lăng Nghiêm dạy: “Nhiếp tâm là Giới, nhân Giới sanh Định, nhân Định phát Huệ. Đây chính là Tam Vô Lậu Học”. Phải biết ba pháp này cả ba đều là một, hoàn toàn là một nhưng lại là ba, chớ nói Giới chỉ là nền tảng ban đầu của Định và Huệ! Phàm Luật Nghi Giới giữ cho thân không vi phạm thì có thể gọi là “nền tảng ban đầu”, nhưng Định kết hợp với Giới giữ cho [vọng] tâm chẳng khởi; Đạo kết hợp cùng Giới thì nghiệp tận tình không, thấu tột lẽ Chân, trí sáng suốt, há chẳng phải là công dụng toàn thể lớn lao của Định - Huệ, há có nên coi Giới chỉ là nền tảng ban đầu mà thôi ư? Định kết hợp với Giới hay Đạo kết hợp với Giới vẫn lấy Luật Nghi làm bản thể; nhưng do công dụng trì giới sâu hay cạn mà lập ra hai tên, chứ ngay từ ban đầu nào có Giới Bổn được nói riêng rẽ ư? Người đời thường bàn luận về Luật Nghi, nhưng chẳng hề biết đến ý nghĩa lớn lao chế định Giới của Như Lai nên xem thường; nhưng Chân Giới, Chân Định, Chân Huệ, không gì chẳng từ sự nghe để un đúc mà đạt được, thật đáng than thở vậy!

Pháp đạo của Như Lai phạm vi rộng lớn trọn khắp mười giới. Tuy những vị hoằng pháp đại sĩ ai nấy đều tam học viên minh (hiểu rõ thông suốt Giới - Định - Huệ), nhưng tạo lập môn đình, mỗi một vị không thể không có một pháp chuyên chú riêng. Nếu chuyên chú nơi “chỉ, tác, trì, phạm”[39] thì gọi là Luật. Nếu chuyên chú nơi tu quán, giảng diễn thì gọi là Giáo. Nếu chuyên chú tham cứu bản lai để mong triệt ngộ thì gọi là Tông. Tông mang tên là “giáo ngoại biệt truyền” (truyền riêng ngoài giáo), nhưng Luật - Giáo chính là “giáo nội chân truyền”. Nói “biệt truyền” là nhằm làm cho con người thấy được bản thể nằm ngoài ngôn ngữ, chứ không có nghĩa là Tông vượt ra khỏi giáo lý! Thử nhìn xem: Đức Thế Tôn cầm cành hoa giơ lên, Ca Diếp mỉm cười, quang cảnh nơi bổn địa triệt để hiển lộ trọn vẹn. Hiểu được điều này thì tất cả hình sắc trong thế gian không gì chẳng phải là cành hoa đức Thế Tôn đã giơ lên, không gì chẳng làm cho con người thấy thấu triệt bản lai diện mục trước khi được cha mẹ sanh ra. Huống chi vô thượng diệu pháp được tuyên nói bởi kim khẩu của Như Lai lại chẳng phải là cành hoa ấy, lại chẳng thể làm cho con người đích thân thấy được bản lai diện mục hay sao? Thế nhưng, trời người trăm vạn, dù thấy đức Thế Tôn giơ cành hoa lên nhưng hết thảy đều ngơ ngác, cũng như đang cỡi trâu lại đi tìm trâu, trọn chẳng thể tìm được!

Nếu biết “trực hạ tiện thị”[40] sẽ thành tựu ngay trong hiện tại biết bao nhiêu, đỡ tốn sức biết bao nhiêu. Do họ mê chẳng biết quay trở lại giống như cái đầu của chàng Diễn Nhã[41], vô cớ phát cuồng bỏ chạy, hạt châu trong chéo áo mà oan uổng chịu bần cùng. Thật đáng buồn thay! Phải biết dù là Luật, là Giáo, hay là Tông, phải toàn vẹn ba điều này mới hòng tiếp nối huệ mạng Phật, truyền được pháp đạo của Phật. Nếu thiếu khuyết thì trên chẳng đủ để chứng Vô Thượng Bồ Đề, dưới chẳng đủ để độ hết thảy hàm thức! Lô Xá Na Phật[42] lấy Giới làm Thể. Do không điều ác nào chẳng tận nên gọi là Tịnh, do không điều thiện nào chẳng trọn vẹn nên gọi là Mãn. Đoạn ác tu thiện chính là hành trì hai thứ Chỉ và Tác vậy. Luật là Phật thân, Giáo là Phật ngữ, Tông là Phật tâm. Ba thứ thân - ngữ - tâm quyết khó tách rời, quyết khó thể thiếu nhau. Nếu không, một cánh khó bay, một bánh xe khó lăn. Muốn tự lợi, lợi tha, lại càng khó được như nguyện!

Kim Sơn là đạo tràng trứ danh hơn một ngàn năm qua, tuy tu trọn ba pháp nhưng chuyên chú nơi Tông. Vì thế, xưa nay những bậc đại triệt đại ngộ ở đấy không biết bao nhiêu mà kể. Cứ cách vài năm lại truyền giới một lần, một là để kế thừa quy mô lớn lao trước kia của Phật, hai là làm gương mẫu tốt lành cho hàng hậu học. Cựu trụ trì Thanh Công và trụ trì Dung Công đều là bạn cũ mấy mươi năm trước. Mùa Thu năm nay lên núi ngắm cảnh, hai vị khẩn khoản lưu lại nghỉ đêm, nhân đó cho biết chúng thường trụ nơi ấy định mở đàn truyền giới vào năm sau, sai Quang viết lời tựa để phát huy ý nghĩa. Đối với Tông, đối với Giáo, đối với Luật, Quang đều chẳng có tâm đắc gì, làm sao đảm nhận nổi lời phó chúc? Chỉ đành đem những gì đã lãnh hội hằng ngày từ Phật, Tổ, cổ đức qua sự thấy biết hèn tệ của mình trình bày tóm lược cho xong trách nhiệm.

Kinh Di Giáo nói: “Hàng tỳ-kheo các ông sau khi ta diệt độ, nên tôn trọng trân kính Ba La Đề Mộc Xoa[43], như trong tối gặp được ánh sáng, như người nghèo được của báu. Nên biết đấy chính là đại sư của các ông, giống như ta trụ thế chẳng hề khác gì!” Kinh Phạm Võng dạy: “Ta là Phật đã thành, các ông là Phật chưa thành. Nếu tin được như thế thì giới phẩm đã đầy đủ”. Lại nói: “Chúng sanh nhận lãnh giới của Phật tức là đã dự vào địa vị của chư Phật, địa vị đã giống với Đại Giác, thật sự là con của chư Phật”. Xin các Phật tử thọ giới ai nấy hãy tự biết mình vốn đã là Phật, do mê trái nên đâm ra dùng sức công đức Phật tánh ấy để luân hồi sáu nẻo, bị các sự khổ cùng cực.

Như Chuyển Luân Thánh Vương mộng thấy mình là con kiến, lần theo mùi tanh tưởi dưới thềm, tự thấy mình thấp hèn, nhỏ nhoi, chứ thân vua nằm trên giường vẫn y như cũ chẳng bị mất. Đến khi tỉnh giấc, mới biết là huyễn mộng biến thành thân con kiến, trọn chẳng có thật thể. Hết thảy chúng sanh cũng giống như vậy. [Chúng sanh là] Phật vốn chưa thành, nghiệp vốn là không, nhưng lầm tạo. Đề cao thánh cảnh, cam bề phàm ngu, nhường cho riêng mình đức Thích Ca Thế Tôn làm bậc trượng phu hùng mãnh, há chẳng đáng buồn quá đỗi ư? Nếu các Phật tử thọ giới ai nấy gắng công thì chẳng những không phụ một phen Dung Công khổ tâm truyền giới, mà còn có thể an ủi thánh ý của đức Như Lai một phen xuất thế chế giới vậy.

63. Lời tựa cho bộ Trừng Tín Lục Tu Bổ Cầu Cống từ huyện Cận đến Khưu Ải Trấn[44]

Cuộc sống người dân hằng ngày sự vụ đa đoan. Nếu chẳng nhờ vào giao thông qua lại, đây - kia đắp đổi nhau thì chẳng sự nào được thành, sanh kế cũng bị đoạn tuyệt theo. Do vậy, sửa sang đường sá chính là nhiệm vụ cấp bách của việc trị quốc bình thiên hạ. Vì vậy, kinh Thi mới có câu: “Châu đạo như chỉ, kỳ trực như thỉ” (đường nhà Châu phẳng như mài, thẳng như mũi tên), kinh Thư mới có những câu như “vương đạo đãng đãng, vương đạo bình bình” (đường vua thênh thang, đường vua bằng phẳng). Nếu có kẻ bảo những câu ấy nhằm sánh ví nề nếp cai trị của nhà vua, chứ không phải nói về đường sá, thì hãy nghĩ thử xem: Nếu đường sá không tu bổ, chẳng những truyền phát hiệu lệnh bị trở ngại, đình trệ, mà nông, công, thương cổ[45] qua lại cùng những quan chức đến nhậm chức, đi công tác đều chẳng thể nhanh chóng toại ý được! Huống chi nếu không có những chuyện “như mũi tên, như được mài, thênh thang, bằng phẳng” thì dùng những điều đó để sánh ví nề nếp cai trị của vua thì có khác gì phỉ báng nề nếp cai trị của nhà vua hay chăng?

Do vậy, sách Châu Lễ [chép chuyện vua] lập ra chức Tư Hiểm Hầu, Nguyệt Lệnh còn ghi lệnh sửa sang đường sá. Đến như những vị chánh thần hộ quốc giúp dân như hai vị đại đế Đông Nhạc[46], Văn Xương thảy đều thị hiện làm chuyện này. Chẳng thấy hai Ngài sửa cầu đắp đường có ích cho người đi, và sửa chữa những con đường khúc khuỷu mấy trăm năm, bắc cầu cho ngàn vạn người qua lại đó sao? Hơn nữa, Trì Địa Bồ Tát do sửa sang, bồi đắp đường sá phẳng phiu nên chứng viên thông. Do vậy, biết tam giáo thánh hiền không ai chẳng chú trọng chuyện này.

Từ huyện Cận đi về phía Đông đến Khưu Ải Trấn hơn hai mươi dặm đường, đi qua những cây cầu lớn - nhỏ tổng cộng có hai mươi ba cái. Xây dựng, tu bổ đã lâu, dần dần thấy hư hỏng. Người trong ấp là tiên sinh Mã Nguyên Bồi phát tâm sửa chữa vào năm ngoái. Do vậy bèn quyên mộ các thiện tín ai nấy bỏ ra tịnh tài và đích thân đứng trông coi thợ, để mỗi một cây cầu đều được khôi phục dáng vẻ cũ. Những chỗ nào sông to, nước sâu thì dựng thêm lan can đá để ngừa cho người đi đêm hôm và kẻ không mắt khỏi bị té ngã, tổng cộng tốn hơn hai ngàn đồng. Nay công việc đã xong, muốn đem công sá sửa chữa cầu và các khoản tiền quyên góp ghi chép đầy đủ vào sổ, đem in rồi gởi tặng để tỏ rõ lòng thành tín. Lại muốn cho người đọc biết được lợi ích nên xin Quang phát huy nghĩa ấy để cho ai nấy đều chú ý. Nhưng loại sách này đọc xong liền thành phế vật, cho nên bèn phụ thêm lời chú thích của tiên sinh Lục Đình Tiếp đối với sách Trị Gia Cách Ngôn của tiên sinh Châu Bách Lư và cuốn Thường Thức Tinh Hoa được ghi chép bởi Lão Thân Báo. Hai tác phẩm này đều có thể dùng để xử thế, trị gia, dạy con thật thiết thực cũng như là pháp để lúc nhỏ thì biết làm những gì thích đáng, lớn lên mong thành thánh thành hiền. Dụng tâm đáng gọi là chân thành, tha thiết. Nguyện những người đọc cùng lấy tâm này làm tâm mình thì lợi ích há có thể nghĩ bàn cho thấu được chăng?

64. Lời tựa sách Tịnh Độ Thích Nghi

Phật pháp sâu rộng, khác nào đại hải. Hạng phàm phu sát đất ai có thể thấu nguồn tột đáy, một hơi nuốt hết cho được? Tuy nhiên, nếu sanh được tâm chánh tín sẽ tự có thể tùy phần tùy sức ai nấy được lợi ích. Ví như Tu La, hương tượng và các loài muỗi mòng uống nước biển cả, loài nào loài nấy đều được no bụng mới thôi. Như Lai xuất thế tùy thuận chúng sanh, vì họ thuyết pháp, khiến ai nấy đều được lợi ích cũng giống như thế. Nhưng chúng sanh thời Mạt nghiệp chướng sâu nặng, thiện căn cạn mỏng, tâm trí hẹp kém, thọ mạng ngắn ngủi. Lại thêm tri thức hiếm hoi, tà ma ngoại đạo tung hoành, nếu tu những pháp môn khác mà muốn cho trong đời này đoạn Hoặc chứng chân, liễu sanh thoát tử quả thật là chuyện rất khó, hiếm có. Chỉ có một mình pháp Tịnh Độ chuyên cậy vào Phật lực cho nên chẳng cần luận đến đoạn chứng, chỉ dựa vào tín nguyện. Tín nguyện nếu có đủ, dù là phường tội lớn cực ác sắp đọa A Tỳ địa ngục cũng vẫn có thể cậy vào sức Thập Niệm, chóng nhờ vào Phật từ tiếp dẫn vãng sanh.

Ôi! Như Lai đại từ phổ độ, chẳng bỏ sót một ai. Chỉ có mỗi pháp này thật là châu đáo, thiết tha nhất. Do vậy, Tây Thiên, Đông Độ, Bồ Tát, tổ sư, cao tăng, đại nho, không ai chẳng dùng pháp này để tự lợi, lợi tha. Tất cả trước thuật cực kỳ rộng lớn, muốn tìm hiểu nguyên ủy nào phải là chuyện dễ dàng. Cư sĩ Vị Ngư Lâm Sư Thượng túc căn sâu dầy, dốc lòng tu Tịnh nghiệp, tận tâm chuyên tinh nghiên cứu đã nhiều năm, muốn hướng dẫn khắp các đồng nhân đều sanh về Tịnh Độ nên trích lấy những nghĩa trọng yếu từ các kinh luận, trước thuật Tịnh Độ, soạn thành tác phẩm, như ghép các miếng da thành áo cừu, như gom hoa làm mật, quả thật thích hợp thời tiết, căn cơ, phô diễn biện tài khéo léo, soạn thành tất cả năm mươi bảy thiên, đặt tên là Tịnh Độ Thích Nghi (cởi gỡ mối nghi về Tịnh Độ). Lời lẽ ngắn gọn nhưng tinh xác, lý sâu nhưng rõ ràng, khiến người đọc không mối nghi nào chẳng cởi gỡ, dù nghĩa nào cũng đều phục. Do đây, chẳng muốn phát sanh lòng tin phát nguyện trì danh hiệu Phật cầu sanh Tây Phương cũng chẳng thể được!

Nhưng cư sĩ đã có thể tập hợp một hai câu, một tiết, một đoạn của tiền nhân, rồi lại dựa theo ý của mình kết hợp thành văn, sao không dùng văn của chính mình để phát huy? Ấy là vì muốn cho người đọc biết được những điều vừa nói ấy đều có xuất xứ. Tuy do chính mình soạn tập, nhưng quả thật trích từ kinh, luận, ngữ lục và các trước thuật, là những điều do Phật, Bồ Tát, tổ sư, các thiện tri thức đã nói, gây ảnh hưởng sâu cho người, gây xúc cảm thiết tha cho người, so với việc chuyên dùng lời lẽ của mình để trình bày thật hơn hẳn nhiều lắm. Trộm nghĩ: Thuyết pháp cho bậc thượng trí thì dễ, bởi người trí hiểu được lý, không còn ngờ vực; như ngựa hay thấy bóng roi liền chạy[47], lúa tốt được mưa ngọt liền sum suê. Vì kẻ hạ ngu thuyết pháp cũng dễ, do tâm kẻ ấy không có thành kiến, tin tưởng hành theo ngay; như chất ngọt có thể trộn được, như lụa trắng dễ nhuốm màu. Chỉ khi nào vì kẻ trung căn thuyết pháp thì quả thật chẳng dễ. Bởi lẽ tri thức của họ phức tạp, lộn xộn, tà - chánh chẳng phân, thường hay dùng phàm tình suy lường thánh trí, dùng tục kiến (kiến giải thế gian) để lãnh hội chân lý. Dù nói đủ mọi thứ hướng dẫn, khơi gợi, họ vẫn cứ hoài nghi hết điều này sang điều khác. Do vậy, phải đặt ra những câu vấn đáp đến hơn năm mươi bảy lần, khiến cho những mối hồ nghi hết sạch, Phật lý được tỏ bày. Người biết tốt - xấu thảy đều tuân hành. Có thể nói là tận tâm, chuyên tinh, dốc kiệt lòng thành, là bậc kiện tướng dẹp sạch nghi hoặc. Nhưng mọi mối nghi đã cởi gỡ, phải dũng mãnh phát đại chí, chỉ giữ mỗi một niệm thì tâm vương do Phật lực sẽ luôn tỉnh giác, giặc cướp phiền não không đất dung thân, muốn chẳng quy hàng cũng không được! Giặc cướp phiền não đã quy thuận sự giáo hóa của Phật thì tuy chưa ra khỏi Sa Bà đã không còn là người khách lâu ngày ở Sa Bà nữa; tuy chưa sanh Cực Lạc nhưng đã là khách quý cõi Cực Lạc. Như thế, trên chẳng cô phụ Phật giáo hóa, dưới chẳng phụ bạc tánh linh của chính mình. Đến cùng tột đời vị lai, cùng với hải hội đại chúng thân cận A Di Đà Phật trong cõi Tịch Quang Tịnh Độ, há chẳng phải là bậc đại trượng phu hùng mãnh ư? Nguyện người thấy nghe đều gắng sức lên.

65. Lời tựa cho lần tái bản tác phẩm sớ giải kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật của ngài Thiện Đạo

Con người sống trong thế gian, họa - phước, cát - hung thay nhau xảy tới, nhưng bị tổn hại hay lợi ích chỉ là do con người khéo dùng tâm hay không. Chư Phật xót thương chính mình và hết thảy chúng sanh bị ba khổ, tám khổ, vô lượng các khổ bức bách não hại. Do vậy, suy nghĩ khổ báo đang phải chịu là ác nghiệp từ đời quá khứ cảm thành. Ác nghiệp đã tạo là do đối trước sáu trần cảnh, chẳng biết chúng như huyễn, như hóa, lầm khởi tâm tham - sân - si mà ra. Do vậy, biết phiền hoặc tham - sân - si chính là đại oán gia của hết thảy chúng sanh. Từ đấy, dùng Giới - Định - Huệ đoạn tham - sân - si, khôi phục thiên chân sẵn có để thành vô thượng giác đạo. Như vậy, ba khổ, tám khổ v.v… quả thật là người hướng dẫn tốt lành cho chư Phật ba đời, là duyên lành vô thượng để chúng sanh vĩnh viễn lìa các nỗi khổ, thường hưởng những sự vui.

Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh là đại pháp khiến cho khắp tất cả dù phàm hay thánh đều cùng trong một đời này vãng sanh Cực Lạc, dù Đốn hay Tiệm đều chứng Vô Sanh Nhẫn, cho đến viên thành Phật đạo. Do thánh thì tự lực đầy đủ, kiêm cậy vào Phật lực nên sự chứng nhập của họ thẳng chóng nhất; cho nên, Hoa Tạng hải chúng cùng nguyện vãng sanh. Còn kẻ phàm thì cậy vào Phật từ lực đới nghiệp vãng sanh, do vậy bèn siêu phàm nhập thánh, chứng địa vị Bất Thoái. Từ đấy, tu dần dần cho đến khi viên mãn Bồ Đề mới thôi. Trong kinh này, phần nói về Trung Phẩm dạy về giới thiện, phước thế gian, Hạ Phẩm nói về chúng sanh tạo các ác nghiệp và Ngũ Nghịch, Thập Ác sắp đọa địa ngục, do xưng niệm danh hiệu Phật bèn được vãng sanh. Lực dụng như thế rộng sâu bậc nhất. Ấy là do vua A Xà Thế nương đại nguyện luân, thị hiện hạnh ác nghịch, giam cha, ngăn mẹ để phát khởi [nhân duyên giảng kinh này]. Bà mẹ vua nhàm lìa Sa Bà, phát nguyện sanh về Cực Lạc, lại vì chúng sanh đời Mạt, cầu pháp vãng sanh. Thế Tôn bèn nói ra mười sáu phép quán, quán tưởng y báo của cõi nước Tây Phương đủ mọi trang nghiêm, chánh báo là tướng hảo, oai đức của Phật, Quán Âm, Thế Chí và nhân lẫn quả của cửu phẩm vãng sanh.

Trong phần đầu của phép Quán Tượng thứ tám, đã nêu tỏ tông yếu như sau: “Chư Phật Như Lai là pháp giới thân, vào trong tâm tưởng của hết thảy chúng sanh. Do vậy, khi tâm các ông tưởng Phật thì tâm ấy chính là ba mươi hai tướng, tám mươi vẻ đẹp phụ. Tâm này làm Phật, tâm này là Phật. Biển Chánh Biến Tri của chư Phật từ tâm tưởng sanh. Vì thế, hãy nên nhất tâm hệ niệm, quán tưởng kỹ càng đức Phật ấy”. Phải biết: Quán tưởng Pháp Thân, thật lý rất sâu. “Tâm làm Phật, tâm là Phật” sự vốn bình thường, bình thường nhưng phi thường, rất sâu nhưng chẳng sâu. Người viên ngộ lẽ này mới gọi là bậc thông đạt. Trong phép quán mười ba, đặc biệt mở ra phương tiện môn cho hàng chúng sanh căn cơ kém cỏi, dạy họ quán thân tướng một trượng sáu hay tám thước[48]. Phép quán thứ mười sáu lại khiến cho kẻ ác nghiệp nặng nề, xưng ngay vào danh hiệu Phật. Do xưng danh nên liền được vãng sanh. Do vậy, biết tướng có lớn - nhỏ, Phật vốn chỉ là một. Quán không được thì xưng danh bèn được lợi ích. Từ chỗ này suy nghĩ kỹ, biết một pháp Trì Danh thật là bậc nhất! Hành nhân đời Mạt muốn được quyết định vãng sanh ngay trong đời này há chẳng trân quý một hạnh Trì Danh này hay sao?

Xét từ khi kinh này được truyền sang đây, Trí Giả, Thiện Đạo, Thanh Lương, Linh Chi mỗi vị đều soạn sớ, về sau chỉ có mỗi bản sớ giải của ngài Trí Giả được lưu truyền. Ba bản kia đều bị ẩn kín. Vào đời Quang Tự nhà Thanh, cư sĩ Dương Nhân Sơn từ Đông Doanh (Nhật Bản) thỉnh về bản chú giải kinh này của ngài Thiện Đạo. Bản sớ giải kinh Vô Lượng Thọ của ngài Huệ Viễn, bản chú giải Vãng Sanh Luận của ngài Đàm Loan đều là những pháp bảo đã bị ẩn mất từ lâu, [nay] đều được khắc in, lưu hành. Bản sớ giải của ngài Thiện Đạo không luận đến thâm ý đế quán, chỉ giải thích thẳng vào kinh văn để hàng căn cơ trung hạ dễ dàng thâm nhập. Đến khi đã thâm nhập thì chẳng nói đến đế quán nhưng tự nhiên hiểu rõ phép đế quán. Có thể nói là khế lý, khế cơ, khéo nói pháp yếu. Hóa thân của Phật Di Đà chẳng phải là lời đồn hư huyễn[49]. Vị tổ thứ hai của Liên Tông, muôn đời kính ngưỡng. Hiềm rằng sách được lưu truyền đã lâu, sai ngoa quá nhiều; do đấy bèn lắng lòng giảo chánh kỹ càng để khắc lại vậy.

66. Lời tựa cho bài Phổ Thuyết Tam Quy Ngũ Giới tại nhà giam thứ nhất ở kinh đô trong ngày Nguyên Đán năm Giáp Tý

Tâm tánh của chúng sanh không khác gì chư Phật; nhưng do mê chưa ngộ nên làm chúng sanh lâu dài. Phẩm Như Lai Xuất Hiện của kinh Hoa Nghiêm có câu: “Lạ thay! Lạ thay! Hết thảy chúng sanh đều có trí huệ, đức tướng của Như Lai, nhưng do vọng tưởng, chấp trước nên chẳng thể chứng đắc. Nếu lìa vọng tưởng, chấp trước thì Nhất Thiết Trí, Tự Nhiên Trí, Vô Ngại Trí đều được hiện tiền”. Phải biết trí huệ, đức tướng và vọng tưởng, chấp trước chỉ trong một tâm, thoạt đầu vốn không phải là hai vật. Hễ mê thì toàn thể trí huệ, đức tướng biến thành vọng tưởng, chấp trước; ngộ thì toàn thể vọng tưởng, chấp trước lại biến thành trí huệ, đức tướng. Ví như nước kết thành băng, băng tan thành nước. Tướng tuy có khác biệt, thể vốn chẳng hai. Hiểu rõ điều này thì ai chẳng nguyện đoạn Hoặc nghiệp huyễn vọng, khôi phục tâm tánh sẵn có? [Những chuyện như] đề cao thánh cảnh, cam phận phàm ngu, chấp tánh phế tu, dùng kiến giải lầm lạc lấy phàm lạm thánh sẽ đều không thể do đâu mà sanh khởi được!

Kinh Thư nói: “Thánh mất niệm nên thành cuồng,cuồng khắc chế được ý niệm bèn thành thánh”. Mạnh Tử nói: “Ai cũng có thể là Nghiêu - Thuấn. Đạo của Nghiêu - Thuấn chỉ là hiếu - đễ mà thôi!” Do vậy, biết: Chẳng thể hành hiếu đễ để làm Nghiêu - Thuấn, chẳng khắc chế ý niệm để thành thánh và chẳng thể khôi phục trí huệ, đức tướng để trở thành Phật thì đều là hạng tự ruồng rẫy, tự vứt bỏ, chẳng chịu gắng sức thực hiện vậy! Như Lai lúc mới thành Chánh Giác, vì khắp hết thảy phàm - thánh nói Phạm Võng Kinh Bồ Tát Giới, có câu: “Các ông là Phật sẽ thành, ta là Phật đã thành. Thường tin tưởng như thế thì giới phẩm đã đầy đủ”. Lại nói: “Chúng sanh nhận lãnh giới của Phật chính là đã dự vào địa vị chư Phật; địa vị giống như Đại Giác, thật sự là con của chư Phật vậy”. Điều chánh yếu là muốn làm cho con người hiểu thấu suốt một niệm tâm tánh nhỏ nhoi này chính là cội gốc của đạo Bồ Đề do chính Như Lai đã chứng vậy. Đã biết như thế thì ai còn chịu thuận theo nhiễm duyên phiền não khiến cho bầu trời chân tánh thanh tịnh rốt ráo bị mây mê sương Hoặc ngăn lấp nữa ư?

Lại khéo léo khuyên dụ dần dần để hàng căn cơ nhỏ trước hết thọ Tam Quy, đem thân tâm quy y Phật Pháp Tăng Bảo, tự có thể phản vọng quy chân, trái trần hiệp giác, rồi dạy cho Ngũ Giới “chẳng sát sanh, chẳng trộm cắp, chẳng tà dâm, chẳng nói dối, chẳng uống rượu” thì những lời lẽ, hành vi thường ngày sẽ không phạm những tội lỗi, thân tâm thanh tịnh. Có những người phát tâm đại Bồ Đề thì lại dạy họ tiến lên thọ Bồ Tát đại giới, khiến cho lý - sự viên dung, phước - huệ cùng tiến, hòng trên cầu Phật đạo, dưới hóa độ chúng sanh. Kinh đô là chỗ đầu não của thiên hạ, vì thế tội phạm trong nhà tù rất đông. Lại do thói đời ngày càng suy bại, chiến tranh, mất mùa liên tiếp, đến nỗi bọn lưu manh ngây ngô, phạm phải phép nước bị giam cầm trong ngục. Há phải đâu chỉ trói buộc làm khổ thân tâm họ, mà thật ra là muốn cho họ sửa lỗi đổi mới, trở thành lương dân tuân theo luật pháp. Lại do gần đây Phật học xương minh, chánh phủ đặc biệt mời những vị cao tăng thông đạt Phật pháp thường đến trại giam khai thị những ý nghĩa trọng yếu của Phật pháp và cái nhân gây ra sanh tử luân hồi, cũng như pháp liễu sanh thoát tử, ngõ hầu ai nấy đều biết tâm này là tâm Phật, ắt sẽ tự tuân hành hạnh Phật. Muốn liễu sanh thoát tử, mà chẳng tín nguyện niệm Phật cầu sanh Tây Phương quyết khó được như nguyện.

Bọn họ nghe vậy như đối trước gương sáng, xấu - tốt tự biết, như gặp mẹ hiền, mừng vui không gì ví dụ được. Tiếng kinh, danh hiệu Phật sáng tối không gián đoạn, biến nhà ngục thành đạo tràng, khiến bạn tù thành pháp lữ. Quả thật là chuyện lạ từ xưa đến nay chưa từng nghe. Đủ chứng tỏ Phật pháp quả thật là lò nung lớn lao để nung phàm đúc thánh vậy. Bất luận vàng cứng sắt chai đến đâu hễ bỏ vào trong ấy đều đúc thành tượng Phật, tượng Bồ Tát vi diệu trang nghiêm. Những ai bảo Phật pháp vô ích cho quốc gia, có hại cho đời, đều là những kẻ chưa thấy màu sắc đã bàn luận mù quáng, khiến mình tự lầm, làm người khác lầm lạc. Viên quan giám ngục do phát đại tâm, bèn đặc biệt thỉnh bậc pháp sư có đức vào ngày Nguyên Đán năm Giáp Tý, nói Tam Quy Ngũ Giới cho khắp các Phật tử trong nhà giam, ngõ hầu họ dùng Quy Giới chế phục thân tâm, khiến cho vọng tưởng, chấp trước không hề còn nữa, trí huệ, đức tướng sẽ được triệt để phô bày trọn vẹn. Hàng Phật tử các ông thoạt đầu đã phạm quốc pháp đến nỗi bị cầm tù, kế đến do được nghe Phật pháp liền nhiễm Phật hương, trở thành pháp khí của Phật. Do nhân duyên ác trở thành nhân duyên thiện, nếu chẳng phải là đã trồng thiện căn từ nhiều kiếp, vạn phần chẳng được may mắn như thế này đâu!

Ví như Ma Ni bảo châu có thể thỏa ý người mưa ra khắp các món báu. Do không hay biết nên quăng trong hầm xí, chẳng những không có công năng mưa ra các báu, mà thể chất còn chẳng khác gì những vật nhơ. May gặp được người trí biết là của quý báu nhất, vào nhà xí nhặt ra, gột rửa đủ cách, lại dùng hương xông để khôi phục lại tánh chất sẵn có. Sau đấy, treo trên tràng cao, châu lại phóng quang minh, tùy ý người cần gì bèn mưa ra khắp các báu. Phật thấy hết thảy chúng sanh cũng giống như vậy. Do đó, dẫu kẻ mê đến cùng cực, làm đủ mọi chuyện ác nghịch, như vua Ca Lợi[50] cắt chặt thân thể, hoàn toàn không có một niệm buông bỏ, mà vẫn thường tìm cơ hội để chỉ dạy, khơi gợi, khiến cho họ được độ thoát. Ấy là vì Phật chỉ xem trọng Phật tánh, còn hết thảy tội cấu ác nghịch Ngài chẳng buồn xét đến. Nếu các ông hiểu được những điều vừa nói trên đây dù là pháp hay ví dụ, ắt sẽ tự chẳng cô phụ Phật giáo hóa, chẳng phụ bạc tánh linh của chính mình, mà một phen hậu ý của chánh phủ, của giám ngục quan, của vị Tăng thuyết pháp, thuyết giới cũng chẳng bị trở thành uổng công. Lại mong ai nấy nỗ lực tấn tu thì may mắn lắm thay!

67. Lời tựa khắc kinh Kim Cang lên đá

Kinh Kim Cang là tiêu chuẩn để phát tâm Bồ Đề, hành đạo Bồ Tát, thượng cầu hạ hóa. Kinh dạy: “Tất cả hết thảy các loài chúng sanh ta đều làm cho họ nhập Vô Dư Niết Bàn để được diệt độ, nhưng vô lượng vô số vô biên chúng sanh được diệt độ như vậy thật ra chẳng có một chúng sanh nào được diệt độ!” Bởi lẽ tâm tánh của chúng sanh xét ngay trên bản thể đã là Vô Dư Niết Bàn, chỉ vì mê nên huyễn vọng tạo thành tướng sanh tử luân hồi. Giống như say thấy nhà xoay, nhà thật ra không xoay; mê cho là phương hướng đổi dời, phương hướng thật ra chẳng chuyển. Chẳng qua vì họ đặc biệt chỉ bày khiến cho họ khôi phục lại cội nguồn sẵn có mà thôi. Nói: “Chỉ hết phàm tình, chứ không có thánh giải; chỉ có trừ đi pháp ngăn lấp, chứ không có pháp làm cho sáng tỏ”, chính là diễn tả ý trên vậy.

Lại dạy chẳng trụ vào Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp để hành bố thí. Bố thí đứng đầu lục độ, vạn hạnh. Kinh văn giản lược, chỉ nêu bố thí làm thí dụ. Nếu chẳng trụ vào tướng để thực hành lục độ vạn hạnh thì tam luân thể không, nhất đạo thanh tịnh, lìa trọn vẹn phàm tình thánh kiến “ta, người, chúng sanh, thọ giả”, chứng trọn vẹn Chân Như diệu tâm thường - lạc - ngã - tịnh. Không trụ vào đâu để sanh tâm, không có gì để đạt được mà thành Phật, thật đúng là vô thượng diệu pháp để tam thế chư Phật trên thành Phật đạo, dưới hóa độ chúng sanh, tu trọn vạn hạnh nhưng một pháp chẳng lập. Vì thế, người thọ trì phước đức quả báo chẳng thể nghĩ bàn. Do vậy, danh nhân xưa nay đa phần đều thọ trì, biên chép kinh này, ấy là vì muốn cho dân chúng đều lần lượt được hiểu đạo tự giác này. Cư sĩ Hưu Tử Đường Thiên Tước xưa có linh căn dốc lòng tin tưởng Phật pháp, kiến địa cao siêu, thư pháp tinh diệu, riêng viết kinh này, cho khắc đá để lưu truyền, hòng tiếp nối chí hướng, sự nghiệp của các vị Âu Dương Tuân, Triệu Mạnh Phủ, Đổng Kỳ Xương[51]. Công đức ấy chỉ có Phật mới biết được; do vậy, chẳng nề hà hèn kém, lược thuật nghĩa kinh để thưa cùng người đọc, ngõ hầu cùng lên được bờ giác.

68. Lời tựa khắc in lưu thông cuốn Phật Di Giáo Kinh Giải

Phật ân rộng lớn, trọn khắp chẳng cùng tận vậy thay! Vì sao nói thế? Do hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh, đều có thể thành Phật. Chỉ vì mê chưa ngộ nên đến nỗi ngược ngạo dùng sức công đức của Phật tánh để lầm lạc khởi tham - sân - si nơi sáu trần cảnh, tạo giết - trộm - dâm. Do Hoặc tạo nghiệp, do nghiệp thọ báo, trải bao kiếp lâu xa thường bị luân hồi sáu nẻo, trọn chẳng có lúc ra. Phật trong kiếp xưa biết điều này rồi, liền phát đại nguyện, muốn cho hết thảy chúng sanh tận hư không trọn pháp giới đều cùng ngộ Phật tánh vốn sẵn có, cùng thoát sanh tử luân hồi, cùng thành vô thượng giác đạo, cùng nhập Vô Dư Niết Bàn. Do vậy, vì khắp pháp giới chúng sanh trải bao nhiêu kiếp lâu xa hành Bồ Tát đạo, chỉ cần điều gì có lợi ích thì không gì chẳng hưng khởi, đề cao, tu trọn Lục Độ nhưng chẳng chấp vào một pháp nào, làm được hạnh khó làm, nhẫn được điều khó nhẫn. Hành bố thí thì quốc thành, vợ con, đầu, mắt, tủy, não đều chẳng tiếc nuối. Do đó, kinh Pháp Hoa nói: “Ta thấy Thích Ca Như Lai trong vô lượng kiếp, [hành] hạnh khó, hạnh khổ, tích công chứa đức, cầu đạo Bồ Đề chưa từng ngưng nghỉ. Xem khắp tam thiên đại thiên thế giới, thậm chí chẳng có chỗ nào chừng bằng hạt cải chẳng phải là nơi Bồ Tát xả thân mạng vì chúng sanh. Sau đấy, mới thành đạo Bồ Đề”. Chỉ một hạnh bố thí này dẫu thọ một kiếp còn chẳng thể nói trọn được, huống chi những thứ khác như trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ cũng như Tứ Nhiếp[52], vạn hạnh nữa ư? Đến khi Hoặc nghiệp hết sạch, phước huệ viên mãn, chứng thấu suốt tự tâm, thành vô thượng đạo, vì khắp chúng sanh nói ra pháp Phật đã chứng là vì muốn cho họ đều cùng đắc pháp Ngài đã đắc.

Nhưng vì thượng căn ít ỏi, trung - hạ lại nhiều, nên Phật bèn tùy cơ lập giáo, khiến cho ai nấy tùy phận được lợi ích. Đến khi một kỳ sự nghiệp đã xong, liền nhập Niết Bàn, nhưng vẫn chẳng bỏ lòng đại bi, thị hiện thành Chánh Giác trong những thế giới phương khác để tế độ. Thị hiện sanh trong cõi này và thế giới phương khác như vậy cố nhiên chẳng thể dùng toán số, thí dụ để diễn tả được nổi. Ví như mặt trời sáng rỡ, vì chiếu cõi đời, mọc - lặn chẳng đứng yên. Cũng như người lái thuyền vì để chở người nên qua lại không ngừng. Nếu xét theo chuyện xuất thế lần này thì [Phật giáng thế] vào năm 26 đời Châu Chiêu Vương[53], mười chín tuổi xuất gia, ba mươi tuổi thành đạo, giảng kinh hơn ba trăm hội. Do vì không căn cơ nào chẳng gồm thâu, không pháp nào chẳng trọn vẹn; lại do hạng trung hạ căn tự lực yếu hèn, chẳng thể thoát sanh tử ngay trong một đời này, dù có tu trì nhưng phiền hoặc chưa đoạn, nếu thọ sanh lần nữa sẽ bị mê mất rất nhiều. Do vậy, riêng mở ra pháp môn tín nguyện niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ, khiến cho dù thánh hay phàm, dù ngu hay trí đều cùng trong đời này vãng sanh Tây Phương. Kẻ thượng căn mau thành Phật đạo, kẻ trung hạ vĩnh viễn thoát luân hồi. Quả thật là đạo thông đạt để tam thế chư Phật phổ độ chúng sanh, là diệu pháp để chúng sanh trong chín giới mau chứng Phật quả. Nhưng chỉ cần đầy đủ lòng tin chân thành, nguyện thiết tha, chí thành khẩn thiết trì danh hiệu Phật để cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, bất luận công phu sâu - cạn, Hoặc nghiệp nặng - nhẹ, không ai chẳng được Phật nhiếp thọ đới nghiệp vãng sanh như thuyền cứu người chết đuối không hề chọn lựa. Chỉ những kẻ tín nguyện chẳng thật, tâm hạnh trái nghịch với Phật là không được Phật tiếp dẫn.

Phật nghĩ thương chúng sanh từ vô thỉ trước đến tận vị lai sau, trên lên đến bậc Đẳng Giác Bồ Tát, dưới đến lục đạo phàm phu, không một ai chẳng thuộc vào đại bi thệ nguyện mênh mông. Ví như hư không bao hàm hết thảy, sâm la vạn tượng cho đến trời đất thảy đều chứa đựng hết. Cũng như nhật nguyệt chiếu khắp muôn phương, dẫu kẻ mù từ lúc lọt lòng chẳng thấy được ánh sáng cũng vẫn được ánh mặt trời, mặt trăng chiếu đến mà được làm người. Nếu không có ánh mặt trời chiếu rọi ắt chẳng có duyên sống còn, nào phải chỉ những người tự thấy được ánh sáng mới được nhờ ơn ư? Những kẻ Thế Trí Biện Thông cậy vào kiến giải câu nệ, hẹp hòi, chê bai Phật pháp, cho là có hại cho thánh đạo, bịp đời, dối dân, trọn chẳng khác gì kẻ mù từ lúc lọt lòng chửi mặt trời, cho là mặt trời không có ánh sáng vậy! Hết thảy ngoại đạo đều trộm lấy ý nghĩa trong kinh Phật cho là chính mình có, lại còn trộm lấy những danh từ của Phật pháp để hành tà pháp. Do vậy biết Phật pháp chính là gốc đạo của hết thảy pháp thế gian, xuất thế gian vậy.

Ví như biển cả chảy ngầm dưới đất, những chỗ nó tưới tắm, chảy lộ ra ngoài chính là vạn con sông; nhưng vạn con sông, không con nào chẳng đổ vào biển cả. Những kẻ báng Phật kia đâu phải là báng Phật mà chính là tự báng mình đấy chứ! Bởi lẽ một niệm tâm tánh của họ toàn thể là Phật nên Phật mới thuyết pháp giáo hóa đủ cách như thế, mong cho họ bỏ mê quy ngộ, tự chứng được Phật tánh sẵn có mới thôi. Do Phật tánh quan trọng nhất, đáng mến tiếc nhất, nên Phật chẳng tiếc công sức như thế. Dù kẻ ấy chẳng tin nhận thì cũng chẳng nỡ buông bỏ. Nếu chúng sanh chẳng sẵn đủ Phật tánh, chẳng kham làm Phật, Phật cứ uổng công lập bày như thế, hóa ra nếu chẳng phải là gã khờ bậc nhất trong thế gian thì cũng là gã đại vọng ngữ bậc nhất trong thế gian ư? Thiên long bát bộ, tam thừa thánh hiền há chịu hộ trì, y chỉ Phật hay sao?

Phật Di Giáo Kinh chính là di chúc khi sự nghiệp một đời đã xong xuôi, sắp nhập Niết Bàn, Phật thiết tha dặn dò hàng đệ tử và hết thảy chúng sanh. Văn tự tuy giản lược, nhưng nghĩa lý thật châu đáo. Kinh dạy tôn trọng kính quý Ba La Đề Mộc Xoa như tôn trọng kính quý đức Thế Tôn. Nếu tôn trọng giới luật của Phật như vậy thì sẽ như thường ở sát bên Phật, không xa cách chút nào. Do vậy, Phật dạy: “Phải biết đây chính là đại sư của các ông, giống như ta đang ở trong đời chẳng hề khác gì!” Tiếp đó, kinh nói đến Giới Tướng, lợi ích trì giới, những tổn thất do không trì giới, và những pháp chế tâm, ăn uống có chừng mực v.v… dặn dò cặn kẽ nhiều lượt, không điều nhỏ nhặt nào chẳng nhắc tới. Dẫu là mẹ hiền sắp sửa qua đời, vì con cái tính kế cũng chẳng thể châu đáo được như vậy. Thật có thể nói là đổ tim đổ gan, mỗi một chữ là một bụm máu. Là đệ tử Phật, nên nỗ lực tu trì như thế nào để khỏi phụ lòng Phật mong mỏi, người chưa biết Phật pháp phải nên cảm kích hành theo như thế nào để khỏi cô phụ ơn sâu ấy. Những lời ấy dường như chuyên dạy cho hàng tỳ-kheo, nhưng thật ra ngụ ý dạy trọn khắp hết thảy phàm - thánh trong chín pháp giới, không sót một ai! Bởi lẽ bậc viên đốn thọ pháp, không pháp gì chẳng viên. Phật dùng một âm thanh nói pháp, chúng sanh tùy loại đều hiểu, há lẽ di giáo sáng rỡ này chẳng thích ứng với Tam Hiền Thập Thánh ư? Nhưng Phật xem hết thảy chúng sanh đều như con một; ngay trong lúc sắp nhập diệt ấy, nỡ nào chẳng khuyến khích, khuyên lơn thêm ư? Những kẻ bàn luận trong đời sau, đa phần cho rằng kinh này dành cho hạng căn cơ nhỏ nhoi và chỉ răn dạy riêng cho hàng tỳ-kheo, khiến cho tâm quang chiếu khắp chín pháp giới rốt cuộc trở thành những giáo huấn dành cho hạng xuất gia Tiểu Thừa, chẳng đáng đau tiếc ư?

Cư sĩ Trần Nguyên Tôn túc căn sâu dầy, học vấn uyên bác, thuở đầu chưa thấy được kinh Phật cũng noi dấu bọn Hàn, Âu, Châu, Trình, mấy năm gần đây mở đọc kinh Phật mới biết Phật là thánh nhân của các thánh, là trời đối với các trời, tất cả ngôn giáo không gì chẳng phù hợp Nho giáo, dùng để bình trị cõi đời thì đạo cách vật trí tri, chánh tâm thành ý, tu - tề - trị - bình mới được viên mãn rốt ráo. Bởi lẽ Nho Giáo chỉ nói đến đời này, còn Phật bàn trọn vẹn ba đời. Nếu thật sự biết nhân quả ba đời, dù hằng ngày chẳng muốn cầu lấy cách vật trí tri, thành ý chánh tâm tu thân cũng chẳng được! Trong đời những kẻ miệng nói phải, tâm sai trái, làm ra vẻ hiền lành nhưng ngầm làm ác đều là vì không biết “tâm thông pháp giới” cũng như không biết tam thế nhân quả mà ra. Nếu như biết thì dù là hạng cực hèn kém, cũng chẳng chịu đối trước gương sáng hiện các tướng xấu, để chịu xấu hổ vậy!

Tiếc rằng cõi đời phần nhiều không biết, đến nỗi chính mình an hưởng phú quý, sang cả, lại sai giết người đầy thành, ngập ruộng, chẳng thương xót mảy may. Than ôi! Đau đớn thay lòng người đời Mạt! Tàn nhẫn đến cùng cực! Nếu không có thuyết nhân quả ba đời của Như Lai thì những kẻ được hết tuổi thọ mới chết cũng sẽ hiếm hoi lắm! Nếu có muốn xuất thế cũng chẳng cần phải làm phương cách chi khác, chỉ cần y theo ngôn giáo của Phật đối trị phiền não tập khí cho hết sạch không còn sót thừa gì thì dù thân ở trong cảnh tục, vẫn chẳng ngại đoạn Hoặc chứng chân, liễu sanh thoát tử, hướng đến Phật quả, giống như cư sĩ Duy Ma ở Tây Thiên và Phó Đại Sĩ, Lý Trưởng Giả, Bàng cư sĩ v.v… ở cõi này. Nếu như không đủ sức thì còn có một pháp cậy Phật từ lực vãng sanh Tây Phương để nhờ cậy được. Há phải đâu hết thảy mọi người đều phải bỏ cõi tục xuất gia mới là đệ tử Phật ư? Những kẻ nào nói Phật pháp vứt bỏ luân lý, trái nghịch thánh giáo đều là do chưa đọc kinh Phật, chẳng biết vì sao Phật thành Phật, lầm lạc dùng ý kiến ức đoán của phàm phu để phán đoán hồ đồ!

Do vậy, nói: Muốn rốt ráo vãn hồi thế đạo nhân tâm mà không đề xướng, xương minh Phật pháp sẽ không thể được! [Ông Trần Nguyên Tôn] cảm kích ân Phật thật sâu đậm, thiết tha, lại muốn cho hết thảy đồng nhân cùng biết đến ân Phật, đem kinh Phật Di Giáo, dùng lời lẽ phổ thông để chú thích ý nghĩa ngõ hầu chánh khách, giới học thuật, thương gia, nông gia, nhân sĩ các giới đều được thấm gội từ ân của Phật, chẳng đến nỗi sẵn có Phật tánh mà thường bị mê mất, trầm luân mãi mãi trong biển khổ sanh tử, không thể ra được! Ông ta muốn khắc in để lưu hành, cậy Quang viết lời tựa. Vì ân sâu đức dầy của Phật nhiều người chưa biết nên Quang trình bày đại lược. Còn như tấm lòng đại từ bi vì chúng sanh, người đọc sẽ tự cảm nhận được qua những gì đã nói trong kinh, nên chẳng trình bày cặn kẽ!

Ôi chao! Phật vì chúng sanh dẫu thiên địa, phụ mẫu cũng chẳng thể sánh ví được một phần hằng hà sa số! Tôi trước kia đã lậm chất độc của họ Hàn, họ Âu, làm gã Nhất Xiển Đề, may chưa bị sa lầy trong đời này, may mắn được gặp Phật pháp, chỉ sợ những người giống như tôi chưa chắc đã được may mắn gặp gỡ Phật pháp như tôi. Do vậy, thốt lời mổ tim vẩy máu này, những mong ai nấy trên chẳng cô phụ ân Phật, dưới chẳng phụ tánh linh của chính mình mà thôi!

69. Lời tựa sách Tâm Kinh Thiển Giải

Rõ ràng là tâm, Phật, chúng sanh ba pháp không sai biệt. Cái tâm vô sai biệt ấy hư linh đỗng triệt, trong lặng thường hằng vừa tịch vừa chiếu, chẳng phải có, chẳng phải không, dứt tuyệt danh xưng thánh - phàm, không có hình ảnh sanh diệt huyễn vọng. Lìa tâm duyên tướng, vì thế tình thức chẳng suy lường được. Vượt khỏi cửa ải văn tự, vì thế ngôn ngữ chẳng thể hình dung được. Như Lai trí huệ rộng lớn, tự tại nơi pháp, khéo dùng lời lẽ để tỏ bày đạo vượt ngoài ngôn ngữ, nói rộng hay lược đều phù hợp, đều đạt đến chỗ khéo léo viên mãn. Do vậy, kinh Đại Bát Nhã nói rộng, ước theo Phật pháp, chúng sanh pháp để chỉ rõ tâm pháp nên nhiều đến sáu trăm quyển. Còn kinh này nói giản lược, ước trên tâm pháp để dạy rõ Phật pháp và chúng sanh pháp nên văn từ chỉ có hai trăm sáu mươi chữ; nhưng sự - lý, nhân - quả của mười pháp giới không gì chẳng đầy đủ. Dùng đại lược để nhiếp sự rộng rãi, không sót một nghĩa nào.

Nếu nói giản ước thì hai câu “chiếu kiến Ngũ Uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách” (soi thấy Ngũ Uẩn đều không, vượt hết thảy khổ ách) chính là mấu chốt của toàn bộ bản kinh. Nếu nói giản lược hơn nữa thì một chữ “Chiếu” pháp nào cũng phô bày trọn vẹn, pháp gì cũng hoàn toàn mất, phô bày lẫn diệt mất đều vắng lặng, Nhất Chân tỏ lộ rốt ráo. Quán Tự Tại là người đã chứng đắc cái tâm ta trước hết, chúng ta há chẳng học theo Ngài ư? Thật có thể gọi là “tâm ấn của Như Lai, cương tông của Đại Tạng, kim chỉ nam cho chín pháp giới, mấu chốt của Đại Bát Nhã”, nghĩa chẳng thể nghĩ bàn, công đức cũng chẳng thể nghĩ bàn. Vì thế, xưa nay những người thọ trì, đọc tụng trọn khắp vũ trụ; người trước thuật hoằng dương khó thể kể xiết. Lý tuy rất sâu, nhưng từ ngữ phải phù hợp căn cơ. Nếu không, tuy khế lý nhưng chẳng khế cơ! Cư sĩ Lý Hòa Lạc tri kiến viên dung, văn tự hoạt bát, muốn cho kẻ sơ cơ dễ hiểu nên dùng văn Bạch Thoại để thiển giải (giải thích nông cạn, sơ lược). Bàn về lý thật hết sức thấu triệt, nhưng chỉ dùng những từ ngữ thật phổ thông, Đại Vân đăng tải trước, rồi cho in lại thành sách, vui sướng lòng người. Soạn xong lại khắc in lưu truyền mãi mãi khắp cõi. Quang tầm thường, kém cỏi, thiếu khả năng, khôn ngăn kính ngưỡng, kính cẩn viết lời tựa dẫn giải để giúp lưu thông vậy!

70. Lời tựa thuật duyên khởi sách Quán Thế Âm Bồ Tát Bổn Tích Cảm Ứng Tụng

Hết thảy các pháp thế gian, xuất thế gian đều do thời tiết, nhân duyên mà phát khởi. Vì thế, cổ đức nói: “Nếu thời tiết đến, lý tự tỏ bày”. Thật đúng là như thế! Quang tầm thường, kém cỏi, trăm chuyện chẳng làm được một điều nào, ăn bám chùa Pháp Vũ ở núi Phổ Đà ba mươi hai năm. Trước kia đọc Phổ Đà Chí, thấy những điều ghi chép trong ấy đều thuộc chuyện hưng - phế của đạo tràng và những chuyện tầm thường như vậy. Còn như sự - lý, bổn - tích trong những kiếp xưa của Quán Âm Đại Sĩ cũng như những nhân duyên Ngài cảm ứng trong cõi này đều thiếu sót, sơ sài, khôn ngăn người ta phải thở dài! Năm Dân Quốc thứ sáu (1917), ba vị cư sĩ Vương Thái Thần, Châu Hiếu Hoài, Trần Tích Châu lên núi tìm gặp. Ông Vương, ông Châu nói Phổ Đà là đạo tràng thánh địa của Quán Âm Đại Sĩ, trong nước, ngoài nước đều kính ngưỡng, sao lại bãi bỏ tòa giảng đã lâu, nỡ để pháp đạo tịch mịch? Xin thầy hãy phát tâm giảng kinh, chúng con sẽ vì thầy trù liệu, lo toan chi phí. Quang viện cớ mình kém cỏi, hết sức từ chối. Ông Tích Châu bèn nói:

- Sơn Chí đã lâu không tu chỉnh, bản gỗ khắc đã mờ câm. Nếu thầy chịu sửa chữa, con sẽ khắc in.

Quang nói:

- Chuyện ấy nào phải dễ dàng. Nếu chiếu theo lệ cũ thì phải là văn nhân mới làm nổi. Nếu đem những chuyện tu - chứng, bổn - tích trong những kiếp xưa kia của Đại Sĩ và những sự tích cảm ứng trong phương này, mỗi chuyện đều lược thuật những nét chánh khiến cho người đọc đều biết ân Đại Sĩ trọn khắp các cõi số lượng nhiều như cát, lòng từ tế độ không ngằn mé; từ đấy, phát khởi chánh tín, thân tâm quy y, gần là đạt được phước trong đường trời - người, xa là chứng quả Bồ Đề, mà không xem khắp Đại Tạng, tra cứu đủ mọi sách vở sẽ không thể làm được. Nếu chẳng phát huy các sự - lý, bổn - tích, cảm ứng của Đại Sĩ thì chính là bỏ chủ dốc chí nơi khách, bỏ gốc theo ngọn, có khác gì những sơn kinh thủy chí[54] tầm thường? Làm sao tỏ rõ Phổ Đà là đạo tràng ứng hóa của Đại Sĩ, lại sao có thể tỏ rõ Đại Sĩ là bậc cha mẹ đại từ bi của pháp giới chúng sanh, có nhân duyên rất sâu đối với chúng sanh trong cõi Sa Bà cho được? Nhưng Quang do túc nghiệp đến nỗi tâm không tri thức, mắt gần như mù lòa, còn phải sám hối một hai năm đợi đến lúc nghiệp tiêu trí rạng, chướng hết mắt sáng thì sẽ chẳng tiếc thân mạng gắng làm cho thành tựu. Nếu như nghiệp nặng chẳng thể cảm ứng để trừ khử cho hết [nghiệp chướng] được thì sẽ qua Giang Tây, cầu cư sĩ Lê Đoan Phủ thay Quang lo liệu việc này. Ông này học vấn quán thông Nho - Thích, văn tài xuất chúng, ắt phát huy được tâm hạnh, sự tích từ bi của Đại Sĩ.

Năm sau, cư sĩ Từ Úy Như đem Văn Sao ấn hành, khiến cho những ai không xem xét kỹ, lầm tưởng Quang là bậc tri thức, từ đấy, thư từ qua lại, ngày càng không rảnh rỗi để làm. Mùa Xuân năm Dân Quốc thứ tám (1919), ông Đoan Phủ quy Tây, cái tâm đã phát trước kia trở thành chuyện nói xuông. Mùa Xuân năm Dân Quốc thứ 11 (1922), Tri Sự[55] vùng Định Hải là ông Đào Tại Đông lên núi cho biết: “Sơn Chí được lưu thông sẽ khiến cho ai nấy do tin tưởng đều cải ác làm lành, phản vọng quy chân, quả thật là nhiệm vụ quan trọng để vãn hồi thế đạo nhân tâm, hãy nên gấp rút tu chỉnh”. Quang thấy tâm ông Đào hộ pháp khẩn thiết, lòng cứu thế ân cần, liền thưa với chủ nhân hai chùa Phổ Tế và Pháp Vũ khẩn khoản xin ông Đào đích thân đảm nhiệm chuyện này. Ông Đào do bận bịu việc công, bèn ủy thác vị nhân sĩ trong vùng là ông Vương Nhã Tam đảm nhiệm. Hết thảy sự việc thì ngoài có ông Đào, trong núi có hòa thượng Khai Như đã thoái ẩn[56] cùng thương lượng, châm chước lo liệu, Quang không rảnh rỗi nên tuyệt chẳng hề hỏi đến. Năm sau, ông Đào được thăng chức, chuyển lên huyện Hàng, nhưng vẫn gởi thư từ qua lại để bàn bạc, châm chước chuyện này. Nếu chẳng phải xưa đã từng được Đại Sĩ phó chúc, há có được như thế hay chăng? Lúc mới vừa bàn bạc chuyện tu chỉnh Sơn Chí xong xuôi, chưa đầy một tháng thì cư sĩ Hứa Chỉ Tịnh từ Bành Trạch, Giang Tây, đến viếng thăm, vừa gặp gỡ liền thành [bè bạn] thuận thảo. Quang thuật đầu đuôi chuyện cũ, đem chuyện sách Đại Sĩ Tụng nhờ vả, ông bèn chấp thuận ngay. Nếu chẳng phải là Đại Sĩ thầm gia bị, sao có dịp gặp gỡ như vậy cho được?

Ông Hứa bèn tra cứu khắp Kinh Tạng và các sách vở, phải mất hai năm mới hoàn thành bản thảo, soạn thành tụng văn gần hai vạn chữ. Lại còn chú thích ý nghĩa để người đọc biết hết căn cội. Lại trích lục các kinh để làm chứng cớ. Tụng Văn gồm ba quyển, dẫn chứng từ kinh văn gồm một quyển, tổng cộng hơn ba trăm bảy mươi trang, được gởi đến [Phổ Đà] vào đầu mùa Hạ. Những ý nghĩa của Tụng Văn đã được trình bày trong lời tựa của ông Hứa; ở đây không nhắc lại nữa. Trước kia, Quang vốn muốn đặt phần này vào đầu bộ Sơn Chí, nay vì số quyển quá nhiều, nên đặc biệt cho khắc in riêng để lưu truyền khắp hậu thế. Nếu in chung với bộ Sơn Chí ắt khó thể lưu truyền rộng khắp được. Đại Sĩ từ vô lượng kiếp đến nay phân thân trong các cõi nhiều như bụi trần, bổn - tích cảm ứng của Ngài chỉ mình Phật biết được nổi. Mấy quyển tụng văn này chẳng qua chỉ là một hạt bụi nơi đại địa, một giọt nước trong biển cả, khiến cho những ai chẳng biết lòng từ sâu xa, lòng bi lớn lao của Đại Sĩ sẽ biết được đại khái. Từ đấy, hổ thẹn, đột nhiên dũng mãnh nói: “Tâm của chúng ta và tâm của Đại Sĩ không hai không khác, Đại Sĩ đã viên thành Phật đạo bao kiếp lâu xa, lại dùng bi tâm vô tận chẳng lìa cõi Tịch Quang, thùy tích[57] trong chín giới hiện đủ mọi sắc thân độ thoát chúng sanh. Chúng ta từ vô lượng kiếp đến nay luân hồi sáu nẻo, được hưởng ân dẹp khổ ban vui của Ngài không biết là bao nhiêu! Mãi cho đến ngày nay, vẫn còn là phàm phu. Trên đã phụ thâm ân Đại Sĩ cứu vớt, dưới phụ bạc Phật tánh sẵn có của chính mình. Lặng im suy nghĩ, há không thẹn đến chết ư? Ngài đã là trượng phu thì ta cũng thế. Chẳng nên tự khinh để rồi lui sụt!”

Do vậy, chuyển biến phàm tình noi theo dấu Thánh, khắc kỷ, giữ lễ, dứt lòng tà, giữ lòng thành, tận lực hành điều thiện thế gian, kiêm tu Tịnh nghiệp, lâu dần đều được biến đổi. Bậc thượng thì ngay trong đời này đoạn Hoặc chứng chân, liễu sanh thoát tử, bậc hạ thì đến lúc lâm chung cậy vào Phật từ lực vãng sanh Tây Phương. Được như thế thì ai nấy đều giữ vẹn lễ nghĩa, ai nấy biết nhân quả, tự nhiên can qua dứt, tai họa do con người gây ra vĩnh viễn dứt mất, mưa thuận gió hòa, quyến thuộc trời thường đến. Nhiệm vụ trọng yếu căn bản để vãn hồi thế đạo nhân tâm như ông Đào đã nói chính là chuyện này! Mong sao những ai thấy nghe đều cùng phát lòng kính ngưỡng Đại Sĩ, gắng sức tu tập thì may mắn lắm thay!

71. Lời tựa in lại sách Giáo Quán Cương Tông Thích Nghĩa Kỷ

Biển Giáo mênh mông, rộng sâu chẳng thể lường; nếu chẳng có gì để chỉ quy sẽ mịt mờ không biết hướng về đâu. Do vậy, đại sư Trí Giả vào đời Trần - Tùy dùng Ngũ Thời Bát Giáo để phán định những pháp đã nói trong suốt cả một đời của đức Như Lai, hiển lộ bản hoài xuất thế của Như Lai. Phật chỉ muốn cho hết thảy chúng sanh cùng thành giác đạo, nhưng do căn cơ, khí lượng bất nhất, nên lại tùy thuận cơ nghi, dần dần khuyến dụ khéo léo, vì Thật lập ra Quyền để tiếp dẫn. Đợi đến khi họ đã được lợi ích nơi Quyền, bèn khai Quyền hiển Thật cùng quy vào bí tạng, mới biết nguyên do “tâm, Phật, chúng sanh, ba thứ không sai biệt; Phật như, chúng sanh như, nhất như, vô nhị như”. Có thể nói là giương Phật nhật trong không trung chiếu khắp cõi đất, trao Quả Giác cho đứa con nghèo cùng, sai nó nối ngôi đấng Pháp Vương.

Nhưng do văn từ quá nhiều chẳng thuận tiện cho kẻ sơ cơ, nên Ngẫu Ích đại sư mới thâu tóm những nghĩa trọng yếu, soạn ra sách Cương Tông. Những chỗ nào ý nghĩa bị ẩn kín bèn giải thích đại lược để người học biết hết ý nghĩa Như Lai thuyết giáo và pháp nương theo Giáo để tu Quán. Có chỗ giống như chỉ dẫn đi về núi báu, trao thẳng Ma Ni bảo châu cho. Từ đấy, hiểu rõ: Không chỉ Đệ Nhất Nghĩa Đế “viên diệu bất sanh bất diệt, chẳng phải có, chẳng phải không” là tâm ấn của Như Lai, mà ngay cả những pháp thiên - nhân - Quyền - Tiểu v.v… và những lời lẽ xử sự trong đời, những nghề nghiệp để kiếm sống v.v… không gì chẳng phải là Đệ Nhất Nghĩa Đế, đều là tâm ấn của Như Lai. Ví như vẽ rồng điểm mắt, rồng lập tức bay lên. Do pháp không có tự tánh, chuyển biến do tâm, người căn cơ viên mãn thọ pháp, không pháp nào chẳng viên.

Mặc Am Pháp Sư dùng cách thích nghĩa (giải thích ý nghĩa) để chú thích dưới mỗi phần. Lại còn soạn phần Kỷ[58] để mong người đọc vừa đọc đến liền hiểu rõ. Người học có được bộ sách này đỡ tốn tâm lực, lại dễ lãnh hội, may mắn chi bằng? Trưởng lão Pháp Dụ chùa Bảo Luân tại Duy Dương muốn in lại để truyền bá rộng rãi, sai Quang giảo chánh những chỗ sai lầm và trần thuật duyên khởi vậy.

72. Lời tựa cho Phật Học Nghiên Cứu Tùng Thư của Thế Giới Cư Sĩ Lâm tại Thượng Hải

Chúng sanh và Phật tâm tánh như một, trọn chẳng có hơn - kém cũng như tăng- giảm, nhưng Phật an trụ trong Tịch Quang, chúng sanh luân hồi trong sanh tử, là vì ngộ và chưa ngộ, và do thuận tu - nghịch tu mà ra. Như Lai biết chúng sanh đều có đủ Phật tánh, đều kham làm Phật. Do vậy, thị hiện sanh trong thế gian, thị hiện thành Chánh Giác, tùy cơ diễn nói hết thảy pháp môn Quyền - Thật để kẻ lợi căn ngay từ đó khai - thị - ngộ - nhập tri kiến Phật; những kẻ độn căn cũng dần dần được un đúc nên được ngộ nhập. Đợi đến khi ngộ - chứng cùng cực mới khôi phục lại Phật tánh sẵn có, mới lìa khỏi danh tướng “phàm - thánh, chúng sanh - Phật” sai biệt. Đấy chính là “làm cho hết thảy chúng sanh đều nhập vào Vô Dư Niết Bàn để được diệt độ, nhưng quả thật không có chúng sanh nào được diệt độ”.

Ôi! Tâm Như Lai độ sanh có thể nói là từ bi đến cùng cực, không còn gì hơn được nữa! Về sau, chư Bồ Tát, tổ sư, thiện tri thức, ai nấy đều tiềm tu mật chứng, hoằng truyền, xiển dương, phát huy để trên thì nối tiếp huệ mạng Như Lai, dưới làm bến bờ cho chúng sanh. Từ khi pháp truyền sang Đông Chấn (Trung Hoa), một ngàn mấy trăm năm qua, những kẻ ngộ tự tánh, đoạn phiền hoặc, thoát sanh tử, chứng Niết Bàn làm sao kể xiết! Những người nối tiếp kế thừa còn có thể thay đổi phong tục, chiến thắng tàn bạo, khử trừ giết chóc, khiến cho dân ngày càng hướng thiện nhưng chẳng biết vì sao! Do vậy, xưa nay những bậc cao nhân lỗi lạc vượt trỗi hơn người không ai chẳng dùng pháp này để tự hành, hóa độ người ngõ hầu thiên hạ thái bình, muôn nước đều yên ổn. Đến thời Hàm Phong - Đồng Trị nhà Thanh, chiến tranh liên tiếp xảy ra, pháp vận suy sụp dần.

Về sau, bãi bỏ cử nghiệp, những người thiên tư cao ai nấy ngoài các môn khoa học ra còn nghiên cứu thêm Phật pháp, mới biết [Phật pháp] là đạo duy nhất vô nhị trong thế gian. Trong lúc thế đạo nhân tâm đã suy hãm đến cùng cực này, muốn cứu vãn mà chẳng xương minh Phật học thì không còn có cách nào hết. Do vậy, ai nấy đều lấy việc đề xướng Phật học làm nhiệm vụ cấp bách, nên hội Nghiên Cứu, Cư Sĩ Lâm được lập ra khắp nơi. Pháp chẳng chấp nhất, tùy theo căn cơ con người, dù Thiền hay Giáo, dù Hiển hay Mật, thảy đều tu trì và phát huy. Lại còn chú trọng pháp môn Tịnh Độ để mong người đã ngộ và kẻ chưa ngộ, đều cùng trong đời này thoát ly sanh tử luân hồi. Ấy là vì chúng sanh đời Mạt Pháp tự lực yếu hèn, nếu không nhờ vào Phật lực, quyết khó thể giải thoát ngay trong đời này. Trong hội Hoa Nghiêm, Hoa Tạng hải chúng, Đẳng Giác Bồ Tát còn dùng mười đại nguyện vương hồi hướng vãng sanh, huống gì những kẻ học Phật trong đời Mạt ư? Do vậy, biết pháp môn Tịnh Độ chính là pháp môn thành thủy thành chung để mười phương ba đời hết thảy chư Phật trên thành Phật đạo, dưới hóa độ chúng sanh.

Thượng Hải là nơi quan trọng của toàn quốc, các cư sĩ trong Cư Sĩ Lâm muốn phổ biến pháp hóa của Phật, ngoài việc giảng kinh niệm Phật ra, mỗi quý (ba tháng) lại ra một số Lâm San ngõ hầu thúc đẩy rộng rãi. Nay lại tiếp tục cho ra đời Phật Học Nghiên Cứu Tùng Thư. Đối với các bộ Khởi Tín Luận, Lăng Nghiêm Kinh Chỉ Yếu, đối với những kinh luận sâu xa uyên áo đều dùng những lời lẽ rõ ràng, giản dị để phát huy, ngõ hầu người sơ cơ dễ lãnh hội, hòng khỏi bị nỗi khổ “do không phù hợp nên không thâm nhập được”, đều được hưởng lợi ích “do ngón tay chỉ mà thấy được mặt trăng”. Từ đây, tiếp tục ấn hành lưu truyền để tỏa rạng ánh sáng Phật nhật, khiến hết thảy đồng nhân cùng ngộ thiên chân Phật tánh sẵn có, ngõ hầu khỏi phụ đại sự nhân duyên xuất thế của Như Lai, mà chuyện vãn hồi thế đạo nhân tâm cũng có thể lấy đây làm căn cứ. Phàm những ai đồng hàng với tôi ai nấy nên giúp đỡ để [cuốn Tùng Thư này] được truyền bá khắp pháp giới vậy.

73. Lời tựa sách Kim Cang Công Đức Tụng

Lục Độ là pháp trọng yếu để Bồ Tát trên cầu Phật đạo, dưới độ chúng sanh. Nhưng năm Độ [đầu tiên] như kẻ mù, Bát Nhã như người hướng dẫn. Năm Độ nếu thiếu Bát Nhã thì chẳng thể rốt ráo đến bờ kia, chẳng thể gọi là Ba La Mật. Bát Nhã như tâm, năm Độ kia như thân. Bát Nhã không có năm Độ thì cũng chẳng thể rốt ráo đến được bờ kia, chẳng được gọi là Ba La Mật! Nếu hai thứ này đều đầy đủ thì mỗi một Độ đều rốt ráo đến được bờ kia, đều được gọi là Ba La Mật. Kinh Kim Cang chính là khuôn phép để phát Bồ Đề tâm, hành Bồ Tát đạo, tu khắp lục độ vạn hạnh. Do kinh văn giản lược chỉ nêu bố thí làm mẫu, như chẳng trụ vào Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp để hành bố thí v.v… nên có thể độ thoát hết thảy chúng sanh, nhưng chẳng thấy ta là người độ và pháp dùng để độ cũng như tướng chúng sanh được độ, thì bốn tướng chẳng sanh, ba tâm[59] há được? Không trụ vào đâu để sanh tâm, vô sở đắc để làm Phật. Do vậy, thọ trì bốn, ba, hai, một câu thì công đức khó thể nói được, còn nói chi là trì toàn bộ kinh. Do vậy, từ cổ đến nay, nhiều người đọc tụng. Người đốn ngộ tự tánh triệt chứng duy tâm, sống dự vào dòng thánh, chết về An Dưỡng kể sao cho xiết? Kế đến là tiêu trừ tội nghiệp, tăng trưởng thiện căn, chuyển họa thành phước, từ ngu trở thành trí lại càng nhiều hơn nữa. Cư sĩ Hứa Chỉ Tịnh đem những sự tích cảm ứng đã được ghi chép từ xưa đến nay phân loại rồi soạn những bài tụng. Bạn ông ta là Lưu Khế Tịnh lại viết lời chú thích để người đọc đều biết được nghĩa lý uyên thâm, công đức rộng lớn, sanh lòng chánh tín, gắng bắt chước tu theo. Tùy theo công hạnh cạn hay sâu cũng sẽ được các thứ lợi ích. Kinh dạy: “Hết thảy chư Phật và đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác của chư Phật đều phát xuất từ kinh này. Nếu có thể phát tâm chí thành cung kính thọ trì thì sẽ thuộc vào trong số chư Phật vị lai”, xin hãy gắng sức lên!

Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao,

Quyển thứ ba

(phần 3 hết)

--------------------------------------------------------------------------------

[1] Tràng (dhvaja) vốn là một loại cờ hiệu dùng để trang nghiêm đạo tràng, có hình ống tròn, chung quanh có tua. Về sau, những trụ cao, có hình ống hoặc hình lục lăng hay bát giác, bốn mặt khắc kinh cũng được gọi là Tràng hay Kinh Tràng. Tràng nói ở đây chính là loại cột trụ cao.

[2] Phong Can là một vị Tăng sống vào thời Đường, giỏi làm thơ, cùng Hàn Sơn và Thập Đắc được gọi là Quốc Thanh Tự Tam Ẩn (ba vị ẩn dật chùa Quốc Thanh). Sư để tóc dài rũ ngang mày, mặc áo vải, thân cao hơn bảy thước (Tàu). Thoạt đầu sống tại chùa Quốc Thanh trên núi Thiên Thai, ngày lo giã gạo, đêm ngâm vịnh, nói năng không câu nệ, đa phần thường là những lời huyền ký. Nếu ai tò mò hỏi đến chỉ đáp hai chữ “tùy thời”. Sư từng ca hát nghêu ngao, có lần cưỡi hổ chạy vào chùa khiến chúng Tăng kinh sợ. Vào thời Tiên Thiên (712-713), Sư lên Kinh Triệu (Trường An) hoằng hóa, từng trị bệnh cho ông Lư Khưu Dận. Do sự chỉ điểm của Sư, ông Lư từng đến tham phỏng hai vị Hàn Sơn, Thập Đắc. Theo Truyền Đăng Lục, ông Lư tìm đến chùa Quốc Thanh thấy Hàn Sơn, Thập Đắc cười hi hí, lộ vẻ ngây ngô, bất giác phục xuống lễ. Vị Tri Khách tăng kinh ngạc: “Sao đại quan lại lễ hai gã cuồng vậy?” Hàn Sơn nắm tay họ Lư cười hề hề: “Phong Can lắm miệng quá! Lễ ta làm chi!” Nắm một lúc thả ra, rồi Hàn Sơn, Thập Đắc nắm tay nhau chạy ra khỏi cửa chùa, không bao giờ trở lại nữa. Sự tích ghi chép về ngài Phong Can không nhiều, không rõ Sư thị tịch năm nào, hiện chỉ còn mấy bài thuộc tập Phong Can Thi và một số bài thơ chép trong tập Hàn Sơn Thi Tập.

[3] Bảo Chí (418-514), sống vào thời Nam Triều, còn được gọi là Bảo Công hoặc Chí Công hòa thượng. Sư người huyện Kim Thành, Nam Quân, Thiểm Tây, họ là Châu. Xuất gia từ nhỏ, theo ngài Tăng Kiệm tu tập Thiền Định. Vào niên hiệu Thái Thủy (466-471) đời Lưu Tống, Sư đến Đô Ấp, không ở nơi nào nhất định, thường hay nói thơ, có những lời lẽ tựa hồ sấm ký. Dân chúng chen nhau đến hỏi việc họa phước. Tề Vũ Đế cho là Sư mê hoặc quần chúng nên bắt giam, nhưng cứ thấy Sư ngày ngày rong chơi ngoài phố. Vào trong ngục xem vẫn thấy Sư nằm đó. Vua nghe vậy, bèn đón vào vườn hoa cho ở trong ấy, cấm không được ra; nhưng vẫn thấy Sư hằng ngày dạo khắp các chùa Long Quang, Kế Tân, Hưng Hoàng, Tịnh Danh v.v… Đến khi Lương Võ Đế sáng lập triều đại, mới bỏ lệnh giam. Sư thường luận Phật pháp rất nhiều với vua. Sư thị tịch tháng Chạp năm Thiên Giám 13, thọ 96 tuổi. Vua sai an táng tại đồi Độc Long thuộc Chung Sơn, dựng chùa Khai Thiện cạnh mộ tháp, ban thụy hiệu là Quảng Tế đại sư. Các đời vua về sau đều phong tặng thụy hiệu như Diệu Giác đại sư, Đạo Lâm Chân Giác Bồ Tát, Từ Ứng Huệ Cảm đại sư v.v… Căn cứ trên những ghi chép về những pháp ngữ của Sư, sách Phật Tổ Lịch Đại Thông Tải kết luận ý chỉ của Sư ngầm hợp tông chỉ nhà Thiền. Sư cũng là người chủ biên công việc biên soạn bộ sám đồ sộ Từ Bi Đạo Tràng Sám Pháp (thường gọi là Lương Hoàng Sám).

[4] Tăng Già (628-710), sống vào thời Đường, vốn là người xứ Bắc Hà, Thông Lãnh, Tây Vực. Trong niên hiệu Long Sóc (661-663), Sư đến Tây Kinh, đi khắp các miền Giang Hoài, rồi trụ tại chùa Long Hưng ở Sở Châu. Về sau Sư tìm được một tượng Phật vàng ở huyện Lâm Hoài thuộc Tứ Châu (nay thuộc tỉnh An Huy), trên tượng có bài minh Cổ Hương Tích và bài minh Phổ Chiếu Vương Phật, bèn lập chùa Lâm Hoài để thờ. Sư thường biến hiện những tướng thần dị, chẳng hạn như hiện thân Quán Âm mười một mặt. Người đời kính ngưỡng, gọi là hóa thân của Quán Âm Đại Sĩ. Năm Cảnh Long thứ hai (708) thời Đường Trung Tông, Sư vâng chiếu vào cung giảng pháp, được tôn làm Quốc Sư. Chẳng lâu sau, tại chùa Tiến Phước, Sư trị bệnh, cầu mưa linh nghiệm, nên chùa Lâm Hoài được sắc tứ biển ngạch “Phổ Quang Vương Tự”. Ngày mồng Hai tháng Ba năm Cảnh Long thứ tư, Sư thị tịch tại chùa Tiến Phước, thọ 83 tuổi.

[5] Hàn Sơn: Ẩn sĩ đời Đường, sống trong hang tối ở rặng Hàn Nham cách núi Thiên Thai của tỉnh Chiết Giang 14 dặm, không ai rõ họ tên Ngài nên gọi theo chỗ ở thành tên Hàn Sơn. Hàn Sơn thường đến chùa Quốc Thanh bầu bạn với sư Thập Đắc. Sư Thập Đắc trông nom trai đường chùa này. Cơm thừa thức ăn dư của đại chúng bỏ lại, sư Thập Đắc thâu thập, đựng trong một cái giỏ trúc đợi Hàn Sơn đến cùng ăn. Hàn Sơn hình dung xốc xếch, dáng vẻ điên rồ. Đến chùa Quốc Thanh có lúc đi thong dong, có khi chạy đuổi người, có lúc ngửa mặt lên không quát mắng. Tăng chúng bực bội, ùa ra xua đuổi, bèn uốn mình vỗ tay, cười ha hả bỏ chạy. Ngài mặc áo rách nát, hình dung tiều tụy, lấy vỏ cây làm mũ, chân đi guốc gỗ to. Thích ngâm thơ xướng kệ, lời lẽ ngập tràn đạo vị. Khi thứ sử Thai Châu là Lư Khưu Dận đến bái phỏng, ngài cùng sư Thập Đắc bỏ trốn. Lư đuổi theo đến Hàn Nham tặng quần áo, thuốc men. Ngài hét to: “Giặc! Giặc! Ta trốn giặc!” Rồi ẩn mình vào hang, lại nói: “Báo với các ông, hãy nên nỗ lực!” Hang đá bèn tự đóng kín lại, không còn thấy dấu tích chi nữa. Sư Đạo Kiều tìm những di vật của Ngài chỉ tìm được hơn một trăm bài thi tụng, bèn sao chép, ấn hành đặt tên là Hàn Sơn Thi. Theo truyền thuyết, các vị Linh Sơn Quy Hựu, Triệu Châu Tùng Thẩm đều đã từng đàm luận Phật pháp với ngài Hàn Sơn.

Như trên đã nói, ngài Thập Đắc là một vị ẩn tăng trông coi trai đường chùa Quốc Thanh ở núi Thiên Thai vào đời Đường, không tường nguyên quán, họ tên. Ban đầu, hòa thượng Phong Can trên đường đi Xích Thành gặp một đứa trẻ bị bỏ rơi bèn đem về Quốc Thanh nuôi dưỡng, đặt tên là Thập Đắc (nhặt được). Đến lớn, sai trông coi hương đăng. Một ngày nọ, Sư lên tòa ngồi đối diện tượng Phật ăn uống như bè bạn, gọi Kiều Trần Như là tiểu quả Thanh Văn, coi như chỗ không người, Tăng chúng xua đuổi, bãi chức Hương Đăng, đuổi xuống trông coi trù phòng. Bình thường, Sư luôn làm ra vẻ điên cuồng, chia cơm thừa canh cặn cùng Hàn Sơn. Trong chùa có miếu thờ thần bảo vệ Già Lam, mỗi ngày cúng chim cho thần làm thức ăn. Thập Đắc bèn dùng gậy đánh tượng thần: “Ngươi chỉ biết ăn, không biết có bảo vệ, giữ yên cho chùa hay không?” Tối ấy, thần báo mộng cho toàn thể Tăng chúng trong chùa: “Thập Đắc đánh ta!” Sáng ra, cả chùa kể chuyện nằm mộng giống nhau, mới biết Thập Đắc không phải là người thường.Trong lúc Tăng chúng tụ tập bố-tát (tụng giới), Thập Đắc xua trâu chạy vào Tăng đường, nói: “Ta không thả trâu. Bầy trâu này đa số là người giữ chức tước trong chùa này”. Rồi gọi pháp danh những vị Tăng đã mất, gọi tên nào, con trâu ấy theo tiếng gọi ngoan ngoãn đi đến. Cả chùa sững sờ. Đời Thanh, năm Ung Chánh 11 (1733), vua phong tặng Hàn Sơn là Hòa Thánh, Thập Đắc là Hợp Thánh. Tục gọi là Hòa Hợp Nhị Thánh, dân chúng hay tạc tượng hai vị để cầu may. Người Âu Mỹ thường dịch sai thành Ho Ho Brothers.

[6] Chùa Song Lâm ở núi Vân Hoành, huyện Nghĩa Ô, tỉnh Chiết Giang. Do trước chùa có hai cây to dính nhau nên gọi như vậy, về sau chùa được đổi tên là Bảo Lâm Tự, nhưng dân gian vẫn quen gọi là chùa Song Lâm.

[7] Khi Bồ Tát Di Lặc thành Phật, Ngài thành đạo dưới cội Bồ Đề. Cây ấy có những nhánh cây trông giống hình dáng con rồng phun ra những đóa hoa nên gọi là cây Long Hoa. Ngài sẽ thuyết pháp trong ba hội độ vô lượng chúng sanh nên gọi là Long Hoa Tam Hội.

[8] Kinh Lăng Nghiêm có chỗ giảng về cái thấy: Đức Phật hỏi vua Ba Tư Nặc: “Khi còn là đứa trẻ vua thấy sông Hằng và nay đã già nhìn lại sông Hằng thì hai cái thấy ấy có khác nhau hay không?” Nhân đó, Phật giảng thân tuy biến đổi, nhưng cái thấy không khác. Cái Thấy ấy chính là tác dụng của chân tâm.

[9] Nguyên văn: “Nhị tam tử dĩ ngã vi ẩn hồ? Ngô vô ẩn hồ nhĩ! Ngô vô hành nhi bất dữ nhị tam tử giả, thị Khâu dã!” Chúng tôi dịch câu này theo sự giải thích của bộ Tứ Thư Bạch Thoại Chú Giải, thiên Thuật Nhi, sách Luận Ngữ, trang 185.

[10] Nay là Ngô Huyện thuộc tỉnh Giang Tô.

[11] Kỷ sự: Thể loại văn chương ghi chép những sự việc.

[12] Ngũ Nhãn là nhục nhãn, thiên nhãn, pháp nhãn, huệ nhãn và Phật nhãn.

[13] Tứ Trí: Diệu Quán Sát Trí, Thành Sở Tác Trí, Bình Đẳng Tánh Trí và Đại Viên Kính Trí.

[14] Ở đây, Tổ dùng hình ảnh lò rèn để ví cho pháp môn Tịnh Độ. Pháp môn Tịnh Độ như cái ống bễ lớn thổi cho phiền não tan chảy. Rồi tâm tánh ấy lại được rèn cặp, như sắt nóng được đặt trên đe, dùng búa đập để rèn thành vật dụng. Hoặc cũng có thể hiểu là vua A Xà Thế và hai đức Thế Tôn kẻ tung người hứng để pháp này có dịp triển khai.

[15] Chung là Chung Dao, Vương là Vương Hy Chi, đều là những nhà đại thư pháp thời Tấn.

[16] Biện Tài là biện luận khéo léo, tức tài năng thuyết pháp khéo léo. Tứ Biện tức Tứ Biện Tài, còn gọi là Tứ Vô Ngại Biện Tài, tức Pháp Vô Ngại Biện Tài, Nghĩa Vô Ngại Biện Tài, Từ Vô Ngại Biện Tài, Biện Vô Ngại Biện Tài. Bốn thứ này còn được gọi là Tứ Vô Ngại Giải, Tứ Vô Ngại Trí.

[17] Bàn Sơn Bảo Tích là đệ tử nối pháp của Mã Tổ Đạo Nhất, sống vào thời Đường, sống tại Bàn Sơn thuộc U Châu (Hà Bắc), tuyên dương Tông phong, nên có hiệu là Bàn Sơn Bảo Tích. Không rõ năm sanh và năm mất, thụy hiệu là Ngưng Tịch Đại Sư.

[18] U là quỷ thần, hoặc những người đang đọa lạc trong ác đạo. Hiển là người đang sống trong thế gian.

[19] Như có nghĩa là thường hằng, không biến đổi. Câu này không thể dịch cho gọn nên giữ nguyên tiếng Hán. Ý nói: Nhất niệm tâm tánh nơi Phật thường hằng, nơi chúng sanh cũng thường hằng, tâm tánh của chúng sanh và Phật giống hệt nhau, bình đẳng, không sai khác. Giống hệt nhau không sai khác nên gọi là “nhất như vô nhị như”.

[20] Tư Sơn thuộc huyện Gia Thiện, tỉnh Chiết Giang.

[21] Tây Phương Công Cứ do Bành Tế Thanh biên tập, nay được xếp vào quyển 109 của Tục Tạng Kinh. Thật ra, đây là một tác phẩm cổ không biết do ai biên soạn, nội dung tuy hay nhưng trình tự khá lộn xộn, không rõ ràng, Bành Tế Thanh chỉ có công biên tập, sắp xếp lại cho hợp lý hơn, về sau Dật Nhân pháp sư lại biên tập lần nữa và được tổ Ấn Quang giám định, mới thành diện mạo như ngày nay.

[22] Đồ thuyết: Hiểu theo nghĩa hẹp có nghĩa là truyện bằng tranh. Hiểu theo nghĩa rộng, đồ thuyết là những bài viết có hình vẽ để dẫn giải hoặc những đồ biểu (chart) giúp hệ thống hóa vấn đề đang trình bày.

[23] Hồng Kiều là một thị trấn thuộc huyện Lạc Thanh, tỉnh Chiết Giang.

[24] Còn gọi là Ngũ Trụ Địa Hoặc, tức Kiến Hoặc, Tư Hoặc, Vô Minh Phiền Hoặc gộp thành một trụ, bốn trụ kia là Dục Ái Trụ Địa, Sắc Ái Trụ Địa, Hữu Ái Trụ Địa, Vô Minh Trụ Địa. Do hết thảy phiền não đều nương vào năm thứ này nên chúng được gọi là Trụ (nương ở, nắm giữ). Do chúng phát sanh ra các phiền não nên gọi là Trụ Địa. Sách Đại Thừa Nghĩa Chương, quyển 5, giảng:

1. Kiến Nhất Thiết Xứ Trụ Địa: chính là Kiến Hoặc gồm Thân Kiến v.v… trong tam giới.

2. Dục Ái Trụ Địa: gồm phiền não trong Dục Giới, ngoại trừ vô minh và Kiến Hoặc, chấp vào Ngũ Dục bên ngoài (Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp).

3. Sắc Ái Trụ Địa: phiền não trong Sắc Giới, không tính Kiến Hoặc, Vô Minh, không chấp vào Ngũ Dục bên ngoài, nhưng chấp vào sắc thân.

4. Hữu Ái Trụ Địa: phiền não trong Vô Sắc Giới, không gồm Kiến, Vô Minh, đã bỏ lìa chấp trước tham Sắc, nhưng vẫn còn yêu mến cái thân của chính mình.

5. Vô Minh Trụ Địa: tức hết thảy vô minh trong tam giới. Vô minh là cái tâm si ám, là cội gốc của hết thảy phiền não.

Duy Thức Tông chủ trương bốn món Trụ đầu là chủng tử của Phiền Não Chướng, món cuối là chủng tử của Sở Tri Chướng. Tông Thiên Thai gọi món đầu tiên là Kiến Hoặc, ba món giữa là Tư Hoặc, món cuối là Vô Minh Hoặc. Họ gọi chung Kiến Tư Hoặc là Giới Nội Hoặc (phiền hoặc trong tam giới), còn Vô Minh Hoặc là Giới Ngoại Hoặc.

[25] Tam Tai là còn gọi là Tam Tai Kiếp. Tam Tai xuất hiện trong kiếp Trụ và kiếp Hoại của thế giới. Có nhiều cách hiểu Tam Tai khác nhau đôi chút:

1. Theo Câu Xá Luận, quyển 12 thì Trụ Kiếp được chia thành 20 thời kỳ nhỏ. Khi tuổi thọ của hữu tình giảm từ tám vạn năm xuống mười năm, rồi lại tăng dần lên khoảng hai mươi lần. Cứ mỗi khi con người giảm tuổi thọ đến chừng còn 10 tuổi thì phát sinh một lần tai ách, tổng cộng có Đao Binh Tai (dùng vũ khí giết hại nhau), Tật Dịch Tai (dịch bệnh lưu hành), Cơ Cẩn Tai (đói kém mất mùa). Đây gọi là ba Tiểu Tai. Còn Đại Tam Tai phát sinh vào thời kỳ Hoại Kiếp. Các kinh như Đại Lâu Thán, Khởi Thế Kinh, Trường A Hàm (tiểu kinh Chuyển Luân Thánh Vương Tu Hành), Ưu Bà Tắc Giới kinh, Đại Tỳ Bà Sa Luận đều nói giống như vậy.

2. Theo sách Pháp Uyển Châu Lâm, quyển 1 thì Tiểu Tam Tai là:

a. Cơ Cẩn Tai, con người thọ tám vạn bốn ngàn năm. Cứ mỗi một trăm năm con người giảm một tuổi, giảm đến mười tuổi thì hạn hán lớn không mưa, cây cỏ không mọc được, vô lượng người trong thế gian bị chết đói.

b. Tật dịch tai: Đến lúc con người tuổi thọ giảm còn 20 tuổi thì bệnh dịch phát sanh, con người chết vì tật dịch vô số.

c. Đao binh tai: Khi tuổi thọ con người còn 10 tuổi, ai nấy đều đánh lẫn nhau, tay cầm nhánh cỏ cũng hóa thành vũ khí tàn sát lẫn nhau.

[26] Tức tâm chán nhàm, xa lìa Sa Bà, ưa thích, ham muốn sanh về Cực Lạc.

[27] Nhị đế tam vương: Nhị đế là Nghiêu, Thuấn, Tam Vương là Đại Vũ, Thành Thang, Văn Vương.

[28] Ba truyện Xuân Thu: tức là các bộ Tả Truyện, Công Dương Truyện, Cốc Lương Truyện. Những cuốn này đều thuật những chuyện thuộc thời Xuân Thu nên gọi là ba truyện Xuân Thu.

[29] Nhĩ Nhã là một bộ từ điển cổ giải thích tên những nhân vật, sự vật, được hoàn thành vào thời Tây Hán.

[30] Kinh Lăng Già (Lankāvatārasūtra), gọi đầy đủ là Lăng Già A Bạt Đa La Bảo Kinh, do ngài Cầu Na Bạt Đà La dịch năm 443 vào thời Lưu Tống. Lăng Già là tên núi, A Bạt Đa La có nghĩa là Nhập (vào). Ý nói: Đức Phật vào trong núi Lăng Già diễn nói bản kinh quý báu này. Đây là một trong sáu bản kinh y chỉ để lập cước của Tướng tông. Đại ý kinh phô diển toàn thể thế giới vạn hữu đều do tâm tạo, những đối tượng được chúng ta nhận thức không phải ở bên ngoài mà ở ngay trong nội tâm. Kinh này kết hợp hai hệ tư tưởng Như Lai Tạng và A Lại Da Thức. Kinh nhấn mạnh căn nguyên của mê là do tập khí từ vô thủy không thể hiểu rõ các pháp đều do tự tâm hiển hiện. Vì thế, khi nào triệt ngộ bản tánh của ý thức sẽ bỏ được sự đối lập giữa chủ thể nhận lấy (năng thủ) và đối tượng bị lấy (sở thủ). Trong Đại Tạng, kinh này có ba bản dịch:

1. Bản dịch của ngài Cầu Na Bạt Đà La, còn gọi là Tứ Quyển Lăng Già Kinh hoặc Tống dịch Lăng Già Kinh.

2. Lăng Già Kinh do ngài Bồ Đề Lưu Chi năm 513 dịch vào thời Bắc Ngụy, còn gọi là Thập Quyển Lăng Già Kinh

3. Đại Thừa Nhập Lăng Già Kinh do ngài Thật Xoa Nan Đà dịch vào đời Đường từ năm 700 đến 704.

Trong ba bản Hán dịch, bản Tứ Quyển Lăng Già phổ biến nhất vì theo truyền thuyết, tổ Đạt Ma đã phó chúc kinh này cho Nhị Tổ Huệ Khả để truyền tâm ấn Thiền Tông. Theo truyện ngài Pháp Xung trong bộ Cao Tăng Truyện ghi chép thì Tứ Quyển Lăng Già được giảng thuật theo hai chi: Chi thứ nhất là các sư thuộc hệ phái của tổ Tăng Xán, y cứ theo sự giảng thuật của Nhất Thừa Tông của Ấn Độ. Chi thứ hai là hệ phái của ngài Đàm Vân Thiên, diễn giảng kinh này theo tư tưởng của Nhiếp Đại Thừa Luận. Vào thời Nam Bắc Triều, kinh này chưa được phổ biến lắm. Đến đời Đường, do Thiền Tông lớn mạnh nên kinh này cũng được hết sức quý trọng. Đương thời có những tông phái mệnh danh là Lăng Già Tông, Lăng Già Sư. Đến khi những vị như Thần Hội chủ trương dùng học thuyết Bát Nhã thay cho chủ trương kinh Lăng Già thì kinh Kim Cang mới trở thành kinh điển chủ yếu của Thiền Tông.

[31] Cao túc: Học trò giỏi giang của một vị thầy, thường gọi là “cao đồ”.

[32] Khám là một chỗ khoét vào lòng tháp hoặc núi để an trí tượng Phật hoặc để quan tài của các vị sư viên tịch.

[33] Tam Mật: Thân mật, ngữ mật, ý mật.

[34] Ý nói chỉ có nhịp điệu tiết tấu tụng niệm nhịp nhàng như thổi ống bễ đều đặn, lễ cúi lên rạp xuống nhịp nhàng như chày giã gạo, chứ không mang ý nghĩa gì hết.

[35] Nguyên văn “khiển trích”: Quở phạt, đày đi xa.

[36] Hàng Thản là một danh xưng khác của thành phố Hàng Châu thuộc tỉnh Chiết Giang.

[37] Tân Xương là tên một huyện thuộc tỉnh Chiết Giang.

[38] La Sát (Rāksasa) là một loài ác quỷ, đôi khi còn phiên âm là La Sát Sa, La Xoa Sa, La Khất Sát Sa, A Lạc Sát Sa… dịch nghĩa là Khả Úy (đáng sợ), Tốc Tật Quỷ (quỷ nhanh lẹ), Hộ Giả (người bảo vệ). Tương truyền La Sát chính là danh xưng của cổ dân Ấn Độ, khi tộc người Aryan chinh phục Ấn Độ, từ ngữ này bèn trở thành đại từ chỉ những loài hung ác. Quỷ La Sát nam thân đen đúa, tóc đỏ lừ, mắt xanh lam, nhưng La Sát Nữ dung mạo tuyệt đẹp, có khả năng mê hoặc con người rất lớn. Loài quỷ này thích ăn thịt uống máu con người. Loài quỷ này có thần thông bay đi rất nhanh hoặc chạy rất nhanh trên mặt đất. Trong địa ngục cũng có những loài quỷ La Sát làm lính canh ngục, chuyên hành hạ tội nhân, thường được gọi bằng danh từ chung là A Bàng La Sát. Chúng thường có hình đầu trâu, đầu dê, đầu nai, đầu thỏ, thân người, hoặc chân có móng như trâu. Trong Mật Giáo, có loài quỷ hộ pháp thường được gọi là La Sát Thiên. Loài quỷ thần này thân hình đoan chánh, mặc giáp trụ, tay cầm binh khí, cỡi sư tử trắng. La Sát Thiên thường được vẽ ở góc Tây Nam trong đồ hình Thai Tạng Mạn Đà La.

[39] “Chỉ, tác, trì, phạm”: Thuật ngữ của Luật Tông. Chỉ là ngăn cấm, Tác là nên làm, nên thực hành. Trì là giữ giới, Phạm là vi phạm, phạm giới. Lấy giới “không uống rượu” làm thí dụ, thì: Không uống rượu là Chỉ. Người thọ giới chớ uống rượu, đó là điều người ấy nên làm (Tác). Vâng giữ giới ấy là Trì, uống rượu là Phạm. Nói rộng hơn, dưới một điều kiện nào đó, dẫu làm điều bị ngăn cấm, nhưng vẫn không bị coi là phạm nếu có lý do chánh đáng. Chẳng hạn, do bệnh tật phải uống thuốc có chất rượu thì phải bạch cùng Tăng chúng, thì không phạm giới. Khi hết bệnh không được uống chất rượu nữa (dù là chất rượu rất nhẹ, như bia cũng không nên uống).

[40] Trực hạ tiện thị (còn gọi “Đương hạ tức thị”): Thuật ngữ nhà Thiền, có thể hiểu đại lược là từ ngay nơi sự vật thấy được chân tánh, từ ngay nơi cái tâm phàm phu huyễn vọng thấy được Phật tánh chân thường v.v… Hễ thấy được thì ngay khi đó bèn giải ngộ Phật tâm, bèn chứng được Lý Tức Phật.

[41] Trong kinh Lăng Nghiêm có chuyện chàng Diễn Nhã soi gương thấy cái đầu của chính mình bèn sợ hãi đến nỗi phát cuồng. Phật dùng chuyện này để ví cho tâm điên đảo cuồng vọng của chúng sanh.

[42] Lô Xá Na: Thông thường, danh hiệu này được hiểu là tên gọi tắt của Phật Tỳ Lô Giá Na, còn được phiên là Lô Giá Na, Lưu Xá Na, hoặc dịch nghĩa là Tịnh Mãn. Tông Hoa Nghiêm coi Lô Xá Na chỉ là tên gọi tắt của Phật Tỳ Lô Giá Na. Theo tông này, Lô Xá Na dùng để chỉ Báo Thân Phật, còn Tỳ Lô Giá Na là tên hiệu của vị giáo chủ Hoa Tạng thế giới. Nhưng tông Thiên Thai chủ trương Tỳ Lô Giá Na là Pháp Thân Phật, còn Lô Xá Na là Báo Thân Phật, Phật Thích Ca là Ứng Thân Phật. Trong kinh Phạm Võng, chính Phật Thích Ca cầu Báo Thân Phật Lô Xá Na nói ra các giới pháp, nhất là giới Bồ Tát.

[43] Ba La Đề Mộc Xoa (Pratimoksa) có nghĩa là Giới Luật của chúng xuất gia để ngăn ngừa những lỗi ác nơi thân - khẩu - ý. Chữ này được dịch nghĩa là Tùy Thuận Giải Thoát, Xứ Xứ Giải Thoát, Biệt Biệt Giải Thoát, Biệt Giải Thoát, Tối Thắng, Vô Đẳng Học v.v… Giới này phòng hộ các căn, tăng trưởng thiện pháp nên lấy chữ Ba-la-mộc- xoa (Pramukha nghĩa là cánh cửa ban đầu dẫn vào thiện pháp) làm ý nghĩa chính. Vì thế gọi là Ba La Đề Mộc Xoa. Giới Luật này bao gồm 8 giới tụ như Ba La Di, Tăng Tàn, Bất Định, Xả Đọa, Đơn Đọa, Ba La Đề Đề Xá Ni, Chúng Học, Diệt Tránh.

[44] Khưu Ải Trấn nằm về phía Đông thành phố Ninh Ba, tỉnh Chiết Giang.

[45] Cổ có nghĩa là khách buôn, lái buôn

[46] Đông Nhạc Đại Đế, danh xưng đầy đủ là Đông Nhạc Thái Sơn Thiên Tề Nhân Thánh Đại Đế, hoặc gọi tắt là Thiên Tề Vương, hoặc Thái Sơn Phủ Quân. Đông Nhạc chính là Thái Sơn trong Ngũ Nhạc. Theo Đạo Giáo, Đông Nhạc Đại Đế là danh tướng Hoàng Phi Hổ thời Trụ Vương, tinh trung báo quốc, bị vua Trụ thảm sát. Thần Đông Nhạc chưởng quản phước, lộc, thọ của nhân gian, trừng phạt kẻ gian ác, đứng đầu Thập Điện Minh Vương. Ngài cũng là vị thần chủ tể âm ty địa phủ. Người Trung Hoa tin thần Đông Nhạc xử đoán công minh, không sai một mảy nên rất tôn trọng, nhằm dịp lễ vía vào mồng Một tháng 10, mọi người nô nức cúng tế.

[47] Trong kinh Di Giáo, Phật từng ví người học đạo như ba hạng ngựa, ngựa giỏi thấy bóng roi người cưỡi vừa giơ lên đã chạy. Còn ngựa ngu đần, bướng bỉnh, roi đánh thấu xương vẫn chưa chịu chạy.

[48] Theo các kinh điển ghi chép, thời đức Phật tại thế, con người chỉ cao có tám thước [Tàu], đức Phật cao gấp đôi người thường, tức là một trượng sáu. Về sau, theo Quảng Hoằng Minh Tập và Pháp Uyển Châu Lâm, tại Trung Hoa có các quy định như tượng đứng cao một trượng sáu, tượng ngồi cao tám thước… Theo Wikipedia, một trượng khoảng 3.33 m. Một trượng bằng mười thước, như vậy một thước Tàu khoảng 33 cm (theo ngu ý, thời cổ, những đơn vị này phải nhỏ hơn nữa, vì nếu khi ấy, con người trung bình cao tám thước, tức khoảng 2.4m, quá cao, quá to lớn so với hiện thời!)

[49] Tương truyền ngài Thiện Đạo, Nhị Tổ Tịnh Độ Tông, chính là hóa thân của Phật A Di Đà.

[50] Khi Phật còn là một tiên nhân tu hạnh nhẫn nhục, vua Ca Lợi vì ghen tức khi thấy các cung nữ vây quanh nghe tiên nhân thuyết pháp, nên ra lệnh chặt đứt tay chân của tiên nhân. Tiên nhân không oán hận, còn phát nguyện khi thành Phật sẽ độ vua trước nhất. Vua Ca Lợi sau này thành tôn giả Kiều Trần Như.

[51] Âu Dương Tuân (557-641), tự Tín Bản, người xứ Lâm Tương, Đàm Châu (nay thuộc huyện Trường Sa, tỉnh Hồ Nam), là một nhà thư pháp lỗi lạc sống vào thời Tùy Đường, sở trường về lối viết chữ Khải. Tài thư pháp của ông nổi tiếng đến nỗi vua Cao Ly từng sai sứ sang xin chữ. Tác phẩm thư pháp tiêu biểu của ông là Hóa Độ Tự Bi (bia chùa Hóa Độ), Văn Ngạn Bác Bi. Lối viết chữ Khải của ông được coi là mẫu mực, được người sau sưu tập cho khắc thành sách để các nhà thư pháp phỏng theo luyện tập.

Triệu Mạnh Phủ (còn đọc là Thiếu, hay Triệu) (1254-1322) tự Tử Ngang, hiệu Tùng Tuyết, biệt hiệu là Tùng Tuyết Đạo Nhân, người xứ Âu Ba, Hồ Châu, tỉnh Chiết Giang, cũng là một nhà thư pháp nổi tiếng vào đời Tống. Ông xuất thân từ hoàng tộc, thông minh dĩnh ngộ từ nhỏ, sách nhìn qua một lượt liền thuộc ngay, thông hiểu văn chương nghệ thuật sâu sắc. Ông cũng lãnh ngộ Phật học rất khá. Do cuối đời Tống, các nhà thư pháp chú trọng viết cho bay bướm, không thể hiện được chí khí qua thư pháp, nên họ Triệu đề nghị khôi phục phong cách cổ, lấy phong cách viết chữ của Vương Hy Chi làm mẫu mực. Về loại chữ Khải, ông đề nghị dùng cách viết trong bài Lạc Thần Phú của Vương Hy Chi, lối chữ Thảo học theo cách viết trong Thập Thất Thiếp cũng của Vương Hy Chi. Triệu Mạnh Phủ nổi tiếng nhất về tài viết chữ theo lối Khải và Hành. Tương truyền, mỗi ngày ông có thể viết được một vạn chữ, chữ nào cũng tài tình, mạnh mẽ

Đổng Kỳ Xương (1555-1636): là một nhà thư họa nổi tiếng thời Minh, tự Huyền Tể, hiệu Tư Bạch, Tư Ông, biệt hiệu là Hương Quang, người xứ Hoa Đình, Tùng Giang (nay thuộc huyện Tùng Giang, Thượng Hải). Ông đậu tiến sĩ thời Vạn Lịch, từng đảm nhậm các chức Biên Tu, Hồ Châu Phó Sứ, Thái Thường Tự Khanh, Lễ Bộ Thị Lang, Nam Kinh Lễ Bộ Thượng Thư v.v… Tài vẽ và viết chữ của ông nổi tiếng suốt cuối đời Minh, đầu đời Thanh. Ông sở trường vẽ sơn thủy. Người đời sau khen nét bút của ông an nhàn, ôn hòa, trong sáng, mới mẻ, tú lệ. Ông thường vẽ tranh sơn thủy bằng bút mềm, sinh động nhìn mãi không chán. Tác phẩm nổi tiếng nhất là Đồng Quan Phố Tuyết Đồ. Ông cũng để lại một số trước tác như Họa Thiền Thất Tùy Bút, Dung Đài Tập, Họa Chỉ, Họa Nhãn v.v…

[52] Tứ Nhiếp Pháp (catvāri samgraha vastūni) là bốn phương cách Bồ Tát dùng để lôi kéo chúng sanh, khiến họ sanh tâm thân ái hòng dẫn nhập Phật đạo, gồm:

1. Bố Thí Nhiếp, còn gọi là Bố Thí Tùy Nhiếp Phương Tiện, Huệ Thí, Tùy Nhiếp Phương Tiện v.v… tức là dùng tâm thấy không có sự bố thí lãnh nhận để bố thí pháp cũng như tài thí. Cách thực hiện là tùy theo chúng sanh ưa thích của cải hay đạo pháp mà tùy hỷ thí cho, không hề sanh chấp trước vào việc bố thí ấy.

2. Ái Ngữ Nhiếp: Còn gọi là Năng Nhiếp Phương Tiện, Ái Ngữ Nhiếp Sự, Ái Ngữ Nhiếp Phương Tiện, Ái Ngôn, Ái Ngữ v.v… nghĩa là tùy theo căn tánh của chúng sanh mà khéo léo khuyên dụ họ hướng về Bồ Tát đạo.

3. Đồng Sự Nhiếp, còn gọi là Tùy Thuận Phương Tiện, Tùy Chuyển Phương Tiện, Đồng Lợi, Đồng Hạnh, Đẳng Lợi, Đẳng Dữ…. nghĩa là thân cận chúng sanh cùng hưởng khổ - vui giống như thế, rồi lại dùng pháp nhãn quán sát họ ưa thích gì bèn thị hiện điều ấy khiến cho họ được lợi ích, cùng nhập đạo.

4. Lợi Hành Nhiếp: Còn gọi là Lợi Ích Nhiếp, Độ Phương Tiện, Lợi Nhân hay Lợi Ích, có nghĩa là dùng thiện hạnh nơi thân khẩu ý lợi lạc chúng sanh, khiến họ yêu thích đạo pháp.

[53] Châu Chiêu Vương (Cơ Hà) làm vua từ năm 979 đến 961 trước Công Nguyên, như vậy ông chỉ làm vua 19 năm. Không rõ chỗ này nguyên bản có bị khắc lầm Mục Vương thành Chiêu Vương hay không?

[54] Sơn kinh thủy chí: tức những cuốn sách trình bày đặc điểm lịch sử của một vùng núi non, sông ngòi nào đó.

[55] Tri Sự vào cuối đời Thanh, nhỏ hơn chức Tri Huyện. Nhưng tại Đài Loan dưới thời lệ thuộc Nhật Bản thì Tri Sự lại lớn hơn Tri Huyện. Tri Sự ở Trung Hoa là người đứng đầu một trấn hay một hạt.

[56] Hòa thượng Khai Như trước kia làm Trụ Trì chùa Pháp Vũ, sau xin nghỉ làm Trụ Trì nên gọi là “thoái cư” (tạm dịch là “thoái ẩn”).

[57] Từ bổn địa, thị hiện các thân hay sự tướng để hóa độ gọi là “thùy tích” (lưu dấu). Chẳng hạn như Bồ Tát Quán Âm đã thùy tích tại Phổ Đà.

[58] Tức phần tóm tắt những ý chính trong một chương.

[59] Tam tâm (theo giáo nghĩa Thiên Thai) là:

1. Giả danh tâm: Tâm chấp trước Ngã thật có, chính là kiến giải của ngoại đạo.

2. Pháp tâm: Tâm chấp trước pháp thật có, chính là tâm của hàng Tiểu Thừa thuộc phái Nhất Thiết Hữu Bộ.

3. Không tâm: Chấp trước Ngã lẫn Pháp, không biết tâm vốn chẳng phải có, chẳng phải không, bất sanh, bất diệt.